Tiến sỹ THÍCH THIỆN MỸ

Tiến sỹ THÍCH THIỆN MỸ 560/TA- Ấp Tân An-Xã Tân Thành Huyện Lai Vung – Đồng Tháp DD: 0939.826271, 0975.865463 Email : thienmy.thich@gmail.com

Wednesday, July 14, 2010

Sợi nano khoẻ nhất xuất hiện

Sợi nano khoẻ nhất xuất hiện
Cập nhật lúc 08h24' ngày 20/12/2006

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: soi nano khoe nhat xuat hien

Các nhà khoa học cho biết đã tạo ra được sợi dây nano khoẻ nhất từ trước tới nay, đạt tới giới hạn lý thuyết mà họ đã đặt ra.
Sợi nano có thể sử dụng trong âm thoa có độ nhạy cao.

Sợi nano có thể sử dụng trong âm thoa có độ nhạy cao. (Ảnh: ABC Online)
Sợi mỏng hơn 1.000 lần so với sợi tóc người, và nếu có đường kính 1 cm thì đủ để nâng 16 con voi châu Phi.

"Sức mạnh tối ưu mà chúng tôi thu được là cao nhất cho bất cứ vật liệu bán dẫn nào và đạt tới giới hạn lý thuyết được định trước", giáo sư John Sader tại Đại học Melbourne của Australia cho biết. "Nó cho thấy sợi nano là vật liệu gần như hoàn hảo".

Các chuyên gia cho biết những sợi dây nano như vậy có thể được sử dụng làm thiết bị điện tử cơ học như máy cảm ứng môi trường hay đồng hồ siêu chính xác.

Sợi nano được tạo ra từ nguyên tố germani, có những đặc tính hoá học giống thiếc. Họ tạo ra vật liệu trên một bề mặt phủ tinh thể nano bằng vàng, cho phép germani cấu tạo hạt nhân và phát triển. Sau khi thử nghiệm, họ nhận thấy nó có thể bị bẻ cong và kéo căng hơn bất cứ sợi nano nào từng được tạo ra trước đó, chịu được 15 gigapascal trước khi bật lại. Trong khi rất nhiều sợi nano bán dẫn khác bật cong chỉ tại 15% giới hạn lý thuyết. Nếu sợi dây có đường kính 1 cm, nó có thể nâng tới 100 tấn mà không bị đứt.

Khả năng đàn hồi này sẽ được áp dụng trong những thiết bị nano có độ an toàn cao và về mặt lý thuyết, không thể tạo ra sợi nano khoẻ hơn được nữa.

M.T.
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/10980_Soi-nano-khoe-nhat-xuat-hien.aspx

Xe bay



Xe bay
Cập nhật lúc 11h10' ngày 24/07/2007

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: xe bay

Một chiếc xe có thể bay lên trên không để tránh kẹt xe, ngập đường...? Chuyện tưởng chỉ có trong phim giả tưởng Hollywood sẽ sớm trở thành hiện thực trong nay mai.

Công ty Moller International (Mỹ) vừa cho biết đã bắt đầu công đoạn sản xuất một chiếc xe nhỏ có hình dạng chiếc đĩa chở được hai người, có thể bay lên và hạ xuống theo chiều thẳng đứng.

Chiếc xe mang mã M200G, tải trọng 113kg, có thể bay lên đến độ cao 3m so với mặt đất nhờ tám động cơ quay. Công ty sản xuất cho biết xe có thể bay trên không từ 45-90 phút với vận tốc tối đa 80km/g.

Với các tính năng hiện đại nhưng cũng có phần lạ lẫm của M200G, nhà sản xuất vì vậy lo ngại sản phẩm sẽ khó được chấp nhận ngay từ đầu. Tổng giám đốc Bruce Calkins cho biết có lẽ trước mắt M200G sẽ dành để phục vụ thú tiêu khiển của khách hàng có tiền, và khi người ta quen dần sự có mặt của nó thì công ty mới tính đến chuyện đưa sản phẩm trở thành phương tiện giao thông.
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/16409_Xe-bay.aspx

Mỏng như giấy, chắc như thép



Mỏng như giấy, chắc như thép
Cập nhật lúc 08h46' ngày 08/10/2007

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: mong nhu giay, chac nhu thep

Một loại nhựa trong suốt, mỏng như giấy mà chắc như thép, là phát minh mới của các nhà khoa học Trường đại học Michigan (Mỹ). Tính năng gần như hoàn hảo nhưng thành phần của nó xem ra đơn giản vì chỉ gồm đất sét và một loại keo không độc thường được sử dụng trong lớp học.

Việc sản xuất và tiêu hủy cũng trên cả mong đợi: tốn rất ít năng lượng để sản xuất, chi phí khá rẻ và phân hủy nhanh nhờ vi khuẩn.

Theo nhà nghiên cứu Nicholas Kotov, loại nhựa này có thể được dùng để giảm năng lượng cần đến khi phải tách khí trong các nhà máy hóa chất, cải thiện các kỹ thuật tinh vi như bộ vi mạch, cảm biến đo lường y sinh và thậm chí một ngày kia sẽ tạo ra những chiếc xe thiết giáp mạnh và nhẹ hơn cho quân đội và cảnh sát.

“Chúng tôi chỉ mới ở giai đoạn thăm dò nhưng đã có thể sản xuất những tấm nhựa 1m2 trong phòng thí nghiệm” - ông Kotov trả lời Hãng tin AFP. Dự kiến, trong 1-2 năm nữa, loại nhựa độc đáo này sẽ xuất hiện trên thị trường.

Ông Kotov và nhóm cộng sự đã chế tạo loại nhựa siêu tính năng này dựa trên cấu trúc xếp lớp trong vỏ sò. Các lớp đất sét siêu mỏng được xếp chồng lên nhau rồi được kết dính bằng keo. Do cấu trúc xếp lớp của vỏ sò, mỗi khi phá vỡ sự kết dính, trên bề mặt cũng không thấy vết rạn.
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/17680_Mong-nhu-giay-chac-nhu-thep.aspx

Toilet di động dành cho xe hơi

Toilet di động dành cho xe hơi
Cập nhật lúc 10h18' ngày 24/10/2007

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: toilet di dong danh cho xe hoi

Bạn đang bị kẹt giữa một hàng dài xe cộ mà "bà mẹ thiên nhiên" lại kêu gọi? Hãng Kaneko Sangyo của Nhật đã thiết kế một nhà vệ sinh di động cho bạn.

(Ảnh: Jalopnik.com)Hãng sản xuất phụ tùng xe hơi đã tung ra sản phẩm mới là một chiếc toilet di động dành cho xe hơi. Toilet bao gồm một tấm rèm đủ lớn để che người sử dụng và một chiếc túi nhựa để chứa chất thải. "Căn buồng sẽ dễ dàng sử dụng trong mọi tình huống khẩn cấp như động đất hay bạn đang bị tắc nghẽn giao thông", đại diện của hãng nói.

Nhật Bản nằm trên "Vành đai lửa" của Thái Bình Dương và chiếm 20% các vụ động đất trên toàn thế giới.

Những tài xế không thể di chuyển khi đang có dư chấn hoặc bị kẹt trong hàng xe nối dài chỉ cần lắp ráp một chiếc bồn toilet bằng các tông, gắn một tấm thấm nước bên trong và kéo rèm. Sản phẩm đủ nhỏ để nhét vừa trong một cái vali.

Toilet kiểu mới bắt đầu được chào bán trên mạng từ 15/11.
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/17908_Toilet-di-dong-danh-cho-xe-hoi.aspx

Sợi carbon mới, siêu bền để may áo giáp



Sợi carbon mới, siêu bền để may áo giáp
Cập nhật lúc 06h38' ngày 28/10/2007

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: soi carbon moi, sieu ben de may ao giap

Các nhà khoa học Anh vừa cho ra đời loại sợi carbon mới, nhẹ và siêu bền để dệt thành vải may áo giáp. Theo kết quả nghiên cứu, loại sợi này có cấu trúc tốt hơn rất nhiều so với loại sợi dùng để may áo giáp hiện nay.

Là kết quả của những nỗ lực tạo ra sợi nhân tạo bền chắc nhất thế giới, vật liệu mới này được phát triển bởi các chuyên gia thuộc khoa Khoa học vật liệu và Luyện kim của Trường Đại học Cambridge, Anh.

Loại sợi carbon mới, nhẹ và siêu bền do các nhà khoa học Mỹ chế tạo.

Loại sợi carbon mới, nhẹ và siêu bền do các nhà khoa học Mỹ chế tạo. (Ảnh: BBC)
Nhóm nghiên cứu cho biết loại sợi này bền hơn, nhẹ hơn và cứng hơn loại sợi đang được sử dụng để sản xuất áp giáp. Mỗi sợi như thế được làm từ hàng triệu ống nano carbon hình trụ rỗng, có đường kính chỉ vài phần tỉ mét, và mắc vào nhau thành một mạng lưới vững chắc.

Cấu trúc của những ống nano carbon này có độ bền vững cực lớn. Theo giáo sư Windle, “có lẽ chúng bền gấp 10 lần so với loại sợi bền nhất mà chúng tôi đã biết”. Ngoài ra, chúng cũng có độ cứng gần bằng kim cương.

Không như sợi carbon thông thường, loại sợi carbon mới này có thể được dệt thành vải một cách dễ dàng do có độ đàn hồi lớn. Phương thức chế tạo loại sợi này tuy đơn giản nhưng cũng rất tinh tế. Theo đó, nguyên liệu hydrocarbon – như ethanol, hexane, methane hoặc diesel – được đưa vào trong lò luyện kim cùng với một lượng nhỏ chất xúc tác có nguồn gốc từ sắt, được gọi là ferrocene.

Bên trong lò, hydrocarbon bị nhiệt phân thành hydrogen và carbon, và carbon này được tái cấu trúc hóa học nhờ chất xúc tác nói trên để trở thành những ống nano carbon dài, mỏng và mắc vào nhau thành những “sợi khói” có tính đàn hồi cao, trông hơi giống như một “chiếc vớ” sẫm màu được kéo dài ra.

Cấu trúc ống nano carbon này được cho là “bền vững gấp 10 lần so với những loại sợi bền nhất hiện nay”.

Một trong những ứng dụng chủ yếu của loại sợi carbon mới là sản xuất áo chống đạn siêu bền. (Ảnh: US Army)
Tiếp đó, một thanh kéo được đưa vào bên trong lò từ phía dưới để giữ lấy một đầu của “chiếc vớ” và kéo mạnh nó xuống. Việc kéo giãn này làm “chiếc vớ” trở thành một sợi carbon dài, mảnh, và sợi này được quấn liên tục vào một cái trục.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Giáo sư Alan Windle, thuộc Đại học Cambridge, nói: “Sợi của chúng tôi có thể tốt hơn loại sợi Kevlar hiện nay về mọi phương diện. Với những đặc tính hiện có, loại sợi mới này có thể được dệt thành áo, hoặc kết hợp với những loại vật liệu phức hợp khác để sản xuất những sản phẩm siêu bền”.

Theo các chuyên gia, ứng dụng quan trọng của sợi carbon mới này là sản xuất áo chống đạn siêu bền, vì nó bền hơn, dai hơn và cứng hơn nhiều lần so với loại vải được dùng để may áo giáp hiện nay. Ngoài ra nó còn có thể được dùng trong việc chế tạo những sản phẩm khác, như trang thiết bị thể thao, quần áo “thông minh” công nghệ cao, pa-nô thu năng lượng mặt trời, thay thế cho dây đồng trong việc truyền điện và tín hiệu, v.v…

Nhóm nghiên cứu đang tìm nguồn tài trợ để nâng cấp phương thức này từ qui mô trong phòng thí nghiệm trở thành một qui trình sản xuất công nghiệp. Nghiên cứu này đã thu hút sự chú ý đặc biệt của Bộ Quốc phòng Anh và Quân đội Hoa Kỳ.

Vĩnh Thọ
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/17958_Soi-carbon-moi-sieu-ben-de-may-ao-giap.aspx

Tuesday, July 13, 2010

Đồng hồ chống muỗi

Đồng hồ chống muỗi
Cập nhật lúc 11h20' ngày 26/08/2006

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: dong ho chong muoi

(Ảnh: NLĐ)Hầu hết mọi người đều sợ muỗi và tỏ ra bối rối trong việc ứng phó với loài côn trùng này.

Không phải lúc nào cũng mặc quần áo kín mít hoặc bôi kem chống muỗi, một thiết bị điện tử phát ra âm thanh đuổi muỗi, đó là mơ ước của nhiều người.

Sau nhiều năm dày công nghiên cứu, hãng Brando đã chế ra một loại thiết bị có hình thù giống như đồng hồ đeo tay, nhưng có tác dụng chống muỗi bằng cách phát ra âm thanh (cực nhỏ). Khi phát ra tiếng “vo ve”, gặp phải thứ âm thanh từ thiết bị này, muỗi sẽ tránh xa.
Theo Người lao động
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/8168_Dong-ho-chong-muoi.aspx

Sunday, July 4, 2010

Ôtô bay chính thức được cấp phép






Ôtô bay chính thức được cấp phép

Một loại máy bay trọng tải nhẹ với tên gọi Terrafugia, có thể dễ dàng được biến thành ô tô, sẽ được đưa vào vào sản xuất sau một loạt các khảo sát của Cục Hàng không Liên bang Mỹ.

Terrafugia là một loại máy bay được thiết kế nhỏ gọn với trọng lượng tối đa gần 600kg. Điểm thú vị là nó có thể trở thành một chiếc ô tô tham gia giao thông bình thường trên đường phố. Khi “tiếp đất”, hai cánh máy bay sẽ cụp lại và các bánh xe sẽ nhanh chóng lăn trên phố như những chiếc ô tô khác. Ước tính, chiếc xe ô tô này chỉ tiêu thụ khoảng 3,78 lít xăng trên đoạn đường gần 50 km. Tốc độ tối đa của chiếc ô tô này lên tới gần 100 km/giờ khi lưu thông trên đường phố.

Ngược lại, khi lựa chọn được địa điểm thích hợp, có thể là sân bay hay đơn giản chỉ là một khoảng đất nhỏ nhưng bằng phẳng, chiếc ôtô có cánh này sẽ tự động “giang cánh”, khởi động cánh quạt phía sau và chỉ cần dịch chuyển lấy đà trong khoảng 500 mét là có thể cất cánh. Máy bay có thể chịu được tải trọng là 200kg. Tốc độ bay của máy bay này có thể lên tới gần 200 km/giờ.

Nhà sản xuất Terrafugia cho biết ưu điểm lớn nhất của ôtô bay là sự an toàn và linh hoạt. Trong điều kiện thời tiết xấu, nó có thể được sử dụng như một phương tiện đường bộ thay vì bay trong điều kiện thiếu an toàn trên không. Tuy nhiên nhà sản xuất cũng đang gặp một vài khó khăn với viện trang bị các thiết bị an toàn đường bộ như túi khí, vùng hấp thụ xung lực trên một phương tiện chỉ nặng 600kg như vậy.

Giá của phương tiện này được ước tính là khoảng 194 000 USD.
http://vietinpdx.com/index.php?mod=article&cat=phatminhmoi&article=5447

Saturday, June 26, 2010

NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

Quan niệm đúng đắn về phát triển bền vững cũng như nhu cầu năng lượng cần thiết cho phát triển là hai vấn đề cấp thiết mà nhân loại cần lưu phải tâm trong những năm sắp đến. Tiến trình toàn cầu hóa trong phát triển chung khiến cho hầu hết lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia hậu kỹ nghệ cần phải ngồi lại để tìm ra những biện pháp chung để giải quyết vấn đề cốt lõi của con người. Đó là năng lượng cần thiết cho phát triển.



Trước những vấn nạn môi trường và hệ sinh thái bị hủy diệt, nhu cầu điện năng đến từ than đá hay thủy điện dần dần bị thay thế bằng những nguyên liệu “sạch” cho năng lượng. Năng lượng từ dầu hỏa có nguy cơ bị cạn kiệt trong những thập niên sắp đến. Về năng lượng gió cũng như năng lượng mặt trời...chỉ là những bước đầu, chưa đạt quy mô lớn và giá thành tương đối còn cao.



Chỉ còn lại năng lượng hạch nhân hiện đang được các quốc gia ráo riết tập trung nghiên cứu để tiến đến một công nghệ năng lượng sạch, an toàn, giá thành rẽ, và mang lại nhiều ứng dụng khác hơn là việc tạo ra điện năng phù hợp với tinh thần phát triển bền vững do LHQ đề ra.



Bài viết có mục đích trình bày một số thông tin căn bản về lịch sử và sự hình thành một lò phản ưng hạch nhân, cùng những viễn kiến tiến tới một công nghệ sạch cùng một số an toàn lao động trong vận hành.





Sự phân bổ các lò năng lượng hạch nhân



Tính đến năm 2004, trên thế giới hiện có 441 lò phản ứng hạch nhân đang hoạt động rãi rác trên 31 quốc gia, sản xuất ra 363 triệu Kilowatt (KW) điện năng. Trung bình một lò phản ứng có khả năng sản xuất từ 800 trăm ngàn đến một triệu KW. Trong 6 năm qua, trên thế giới có 30 lò đang được xây cất ở 24 quốc gia, và hiện nay đã đi vào vận hành 12 lò, cũng như thế giới đang có dự kiến xây dựng thêm 104 lò phản ứng nữa trong vòng 10 năm tới.



Các quốc gia Á Châu như Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Đại Hàn là những quốc gia đang đặt trọng tâm vào việc xây dựng lò phản ứng cho nhu cầu năng lượng cần cho phát triển. Trong tượng lai, năng lượng hạch tâm không chỉ được được sử dụng để sản xuất ra điện năng mà còn được ứng dụng như một dạng năng lượng để sản xuất ra khí Hydrogen (H2), hoặc dùng để khử muối trong nước biển cho nhu cầu nước sinh hoạt ở những vùng không đủ nước. Có thể nói H2 là hoá chất căn bản để thực hiện hầu hết các quy trình sản xuất hóa chất trong kỹ nghệ, đây là một nguyên liệu có thể thay thế các sản phẩm hóa chất khác từ dầu hỏa.



Tại Hoa Kỳ, hiện có 103 lò phản ứng đang hoạt động, sản xuất ra 97 triệu KW, chiếm khoảng 20% nhu cầu điện năng toàn quốc. Chi phí xây dựng cho 1 KW giờ điện của loại năng lượng nậy là 1,68 cents, chỉ đứng sau giá điện năng do thủy điện cung cấp mà thôi. Tại California, chúng ta phải trả trung bình khoảng 7 cents cho 1 KW giờ. Thời gian hoạt động của một lò phản ứng năng lượng hạch nhân là khoảng 50 năm.



Đối với các quốc gia Tây Âu, tỷ lệ sử dụng điện từ lò hạch nhân trung bình khoảng 35%. Pháp đã sử dụng 78% cho nhu cầu điện toàn quốc; Bỉ, 55%.







Lịch sử hình thành lò phản ứng hạch nhân



Một trong những nhu cầu cần thiết để phát triển quốc gia là năng lượng. Và năng lượng đến từ các lò phản ứng hạch nhân được các khoa học gia chú ý đến từ những năm đầu thập niên 50. Từ đó lò phản ứng thuộc thế hệ I (generation I) ra đời. Các lò nầy hiện tại vẫn còn được sử dụng. Tuy nhiên các lò thuộc thế hệ nầy đang đi dần đến sự đào thải vì thời gian vận hành sắp chấm dứt (tuổi thọ của một lò phản ứng vào khoảng 50 năm).



Thế hệ thứ II ra đời vào đầu thập niên 70. Thế hệ thứ III, vào thập niên 90. Và sau cùng thế hệ thứ IV đang được chuẩn bị với rất nhiều hy vọng trở thànhmột công nghệ toàn hão vì:



· Sẽ làm giảm thiểu tối đa hiệu ứng nhà kính qua việc phóng thích thán khí đối với các lò phản ứng thuộc các thế hệ trước đó, thực hiện được an toàn lao động trong vận hành,

· Và nhất là các lò trên sẽ là “lò phản ứng tự giải quyết” trong trường hợp có tai nạn xảy ra, nghĩa là không cần thiết đến sự hiện diện của con người trong trường hợp nầy.



Lò phản ứng thế hệ I - Lò phản ứng có tên Magnox là một lò phản ứng đầu tiên được sản xuất và tung ra thị trường vào những năm đầy thập niên 50 do 3 nhà vật lý học người Anh sáng chế có tên: TS Ion, TS Khalit, và TS Magwood. Lò Magnox xử dụng nguyên liệu Uranium trong thiên nhiên trong đó chỉ có 0,7% chất đồng vị (isotope) U235 và 99,2% U238. Nguyên tắc vận hành có thể được tóm tắt như sau: Các ống kim loại Uranium nầy được bao bọc bằng một lớp hợp kim gồm nhôm (Al) và Magnesium (Mg). Một lớp than graphite đặt nằm giữa ống Uranium và hợp kim trên có mục đích làm chậm bớt vận tốc phóng thích của trung hòa khí (neutron) do sự tách rời (fission) U235. Từ đó các trung hòa tử trên sẽ va chạm mạnh với hạch nhân của U235 (nuclei)...để các phản ứng dây chuyền liên tục xảy ra làm tăng thêm sự va chạm... Đây là một phản ứng phát nhiệt rất lớn và thán khí (CO2) được dùng để chuyển tải nhiệt năng nầy đến một máy turbine hơi nước để từ đó biến cải thành điện năng.



Việc điều hòa vận tốc phản ứng dây chuyền hoặc chận đứng phản ứng là một công đoạn quan trọng bậc nhất của một lò phản ứng. Trong công đoạn nầy lò Magnox sử dụng một loại thép làm từ hóa chất boron (B), loại thép nầy có tính chất hấp thụ các trung hòa tử, do đó có thể điều khiển phản ứng theo ý muốn. Có tất cả 26 lò Magnox đã hoạt động ở Anh Quốc, hiện tại chỉ còn 8 lò còn đang họat động và sẽ bị đào thải vào năm 2010.



Lò phản ứng thế hệ II: Các lò nầy đã ra đời vào thập niên 70 và 80, hiện chiếm đa số các lò đang họat động trên thế giới. Từ lúc ban đầu, 60% của loại lò nầy áp dụng nguyên lý lò nước dưới áp suất (pressurized water reactor-PWR), trong đó nước dưới áp suất cao được sử dụng vừa làm dung dịch làm nguội, vừa làm dung dịch điều hòa phản ứng. Nguyên liệu sử dụng cho lò thuộc thế hệ II nầy thay vì dùng Uranium thiên nhiên, hợp chất Uranium dioxide (UO2) được thay thế và hợp kim nầy được bọc trong các ống cấu tạo bằng kim loại Zirconium. Do đó Uranium-235 sẽ được tinh luyện từ 0,7% đến 3,0 - 3,5%. Nhưng các loại lò nầy lần lần được thay thế bằng cách áp dụng nguyên lý của lò hơi nước dưới áp suất (boiling water reactor-BWR). Một khác biệt căn bản là nước được đun sôi rồi mới chuyển qua hệ thống làm tăng áp suất. Làm như thế, phương pháp nầy rút ngắn tiến trình tạo nhiệt của hơi nước trong khi chuyển số nhiệt lượng qua các turbine để biến thành điện năng.



Lò phản ứng thế hệ III: Kể từ cuối thập niên 80, thế hệ III bắt đầu được nghiên cứu với nhiều cải tiến từ các lò phản ứng loại BWR của thế hệ II. Và lò nầy được đi vào hoạt động đầu tiên vào năm 1996 tại Nhật Bản. Bằng sáng chế đã được US Nuclear Regulatory Commission (NRC) xác nhận. Hiện tại các lò nầy đang được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới vì đáp ứng được nhu cầu xây cất tương đối ngắn, 3 năm, và chi phí cũng giảm so với các lò thuộc thế hệ trước cùng phương cách vận hành cũng như bảo trì tương đối giản dị và an toàn hơn.



Lò phản ứng thế hệ IV: Tuy nhiên trước yêu cầu ngày càng cấp thiết hơn về an toàn lao động và bảo vệ ô nhiễm môi trường nhất là hiệu ứng nhà kính, các khoa học gia đang tiến dần đến việc xây dựng các lò hạch nhân thế hệ IV, trong đó hệ thống an toàn không còn dùng đến con người nữa mà hoàn toàn tự động.



Thêm nữa sẽ không còn có việc thải hồi khí CO2 vào không khí. Một đặc điểm mới của lò hạch nhân thế hệ IV nầy là có thể sản xuất ngoài điện năng, còn cho ra Hydrogen, một nhân tố căn bản cho hầu hết các phương pháp tổng hợp hóa chất cần thiết cho công kỹ nghệ. Thế hệ IV còn được gọi là “lò phản ứng cách mạng

(revolutionary reactor). Thế hệ nầy đang được 9 quốc gia phối hợp thử nghiệm từ năm 2000. Các quốc gia nầy gồm: Á Căn Đình, Ba Tây, Canada, Pháp, Nhật Ban, Nam Phi, Đại Hàn, Anh Quốc, và Thụy Sĩ. Cộng đồng nguyên tử năng Âu Châu (European Atomic Energy Community) cũng đã xin gia nhập nghiên cứu chung vào năm 2003.



Thế hệ nầy sẽ đi vào ứng dụng vào năm 2030 và có thể thỏa mãn những điều kiện sau ngoài các lợi thế kể trên:



· Giá thành cho điện năng sẽ rẻ hơn hiện tại;

· Hoàn toàn an toàn 100%;

· Phế thải được giảm thiểu tối đa.





Vấn đề an toàn vận hành của một lò hạch nhân



Để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai, việc làm khẩn thiết và cấp bách của các khoa học gia là làm thế nào để bảo đãm an toàn lao động trong vận hành và an toàn cho dân chúng sống chung quanh lò hạch nhân trong tường hợp có tai nạn hay khủng bố. Đây là mục tiêu mà mọi quốc gia đang nhắm đến.



Tuy nhiên vấn đề an toàn lao động trong việc sử dụng năng lượng hạch nhân đã làm tăng thêm nhiều dị biệt trong quan niệm về lãnh vực nầy của các nhà làm khoa học. GS Jerrence Collins, thuộc đại học Carnegie Mellon, Pittsburgh đã phát biểu:” Tôi nghĩ năng lượng hạch nhân là một hướng đi sai lầm vì việc sử dụng loại năng lượng nầy sẽ không bao giờ có được an toàn”.



Ngược lại, TS Peterson, một chuyên gia vể nguyên tử nổi tiếng có cái nhìn tích cực hơn trong khi suy nghĩ về tính an toàn trong vận hành một lò phản ứng là:



1- Cần phải có một hệ thống kiểm soát hữu hiệu để chấm dứt sự tách đôi của các trung hòa tử (nghĩa là chấm dứt hệ thống phát nhiệt) khi xảy ra tai nạn. Tai nạn ở Chernobyl năm 1986 đã xảy ra quá trầm trọng về mặt thiệt hại nhân sự vì lò hạch nhân ở nơi đây không có hệ thống tự động để ngưng phản ứng kể trên



2- Mục tiêu thứ hai cho an toàn lao động là làm thế nào để di dời các phế thải phóng xạ (radioactive decay) được sinh ra liên tục trong giai đoạn va chạm và tách rời giữa các trung hòa tử và hạch tâm Uranium. Nếu không được di dời đúng lúc, phế thải phóng xạ sẽ tích tụ ngày càng nhiều làm cho các ống phản ứng nóng thêm ra và làm hư hại các ống nầy, do đó lò phản ứng sẽ bị giảm hiệu năng và có thể xảy ra tai nạn. Đó là tai nạn ở một lò hạch nhân Pennsylvania vào năm 1979.



3- Mục tiêu thứ ba là làm thế nào để ngăn chặn việc chất phóng xạ thoát ra ngoài không khí. Do đó, lò phản ứng phải hoàn toàn bị cô lập trong trường hợp có tai nạn.



Các lò phản ứng thuộc thế hệ I và II có hệ thống an toàn dựa theo các nguyên lý về cơ học, vật lý, và điện học như: hệ thống kiểm soát nhiệt, các chốt đóng/mở tự động, bơm tự động, hệ thống trao đổi nhiệt (làm nguội) tự động. Trong lúc đó các lò thuộc thế hệ III được trang bị hệ thống di dời phế thải phóng xạ và có hệ thống bơm nước để gỉai nhiệt tòan thể lò phản ứng; khi tai nạn xảy ra sẽ có một hệ thống an toàn tự động bắt đầu hoạt động ngay không cần có sự điều khiển của con người.



Hiện tại, trước khi thế hệ IV đi vào hoạt động, thế hệ III đang được cải tiến thêm để thỏa mãn 3 mục tiêu kể trên. Từ đó, lò hạch nhân Westinghouse AP 1000 do Westinghouse Electris (US) đã ra đời chế. Lò nầy, so với 3 thế hệ trước đã giảm được 50% chốt đóng mở, 35% bơm áp suất, 80% đường ống, và 80% dây cáp trong thiết kế mới nầy. Với sáng chế trên, lò AO 1000 cho đến năm 2010 sẽ giảm chi phí xây cất xuống còn $1000 đến $1200 Mỹ kim cho 1 KW điện.





Quan điểm dị biệt giữa các quốc gia



Tuy cùng chia xẻ một nhu cầu chung cho tương lai, cùng những tiện ích và tương đối an toàn trong việc bảo vệ môi trường đối với các lò hạch nhân ở thế hệ mới, các quốc gia trên thế giới vẫn cho thấy một quan niệm không đồng nhất về sự hiện hữu của các lò hạch nhân.



Đối với Hoa Kỳ, các lò phản ứng thuộc thế hệ IV thể hiện một chu trình sản xuất năng lượng sạch, từ đó họ cổ súy việc sử dụng loại năng lượng nầy. Nhu cầu phát triển của Hoa Kỳ trong vòng 20 năm tới cần thêm 335 triệu KW tương đương với việc xây thêm khoảng 50 lò hạch tâm.



Trong lúc đó tại các quốc gia Tây phương như Phần Lan chỉ dự định xây thêm môt lò nữa mà thôi trong tương lai. Pháp cũng đồng ý xây thêm nữa cho nhu cầu của nước nầy. Đối với các quốc gia khác như Đức, Hòa Lan, và Thụy Điển đang có dự án chấm dứt các lò phản ứng hiện đang còn hoạt động.



Và trầm trọng hơn nữa, là chính phủ Áo, Đan Mạch, và Ái Nhỉ Lan đã bày tỏ chống đối việc sử dụng loại năng lượng hạch nhân nầy. Chính phủ Ý đã quyết định hủy bỏ 4 lò phản ứng sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1987. Về phần Tây Ban Nha thì đang quản lý 9 lò phản ứng và có dự định xây thêm. Còn Anh Quốc thì hiện tại chưa tỏ thái độ đồng ý hay chống đối. Trong lúc đó, Nga Sô sau tai nạn Chernobyl đang xây thêm 6 lò và dự trù xây thêm 8 lò nữa trong một tương lai gần đây.



Về phía Á Châu, Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản, Đại Hàn, và Đài Loan đều có chương trình tích cực cho việc xây dựng lò phản ứng hạch nhân. Gần đây nhất, các quốc gia nầy đã hoàn tất tất cả 17 lò, và đang dự định xây cất thêm 70 lò nữa. Trong lúc đó Phi Luật Tân vừa sắp sửa hoàn thành 90% lò hạch nhân, nhưng vì sự phản đối của người dân trong vùng về mức bảo đãm an toàn lao động trong vận hành đã bắt buộc chính quyền quốc gia nầy phải hủy bỏ dự án nữa chừng, tốn hao công quỹ hàng tỷ Mỹ kim.





Còn Việt Nam thì sao?



Việt Nam hiện có một Viện Năng Lượng Nguyên Tử ở Đà Lạt (Việt Nam Nguyên tử lực Cuôc cũ thời Việt Nam Cộng Hòa) do TS Phạm Duy Hiển làm Giám đốc hơn 20 năm nay. Theo báo chí trong nước thì Việt Nam dự định bắt đầu xây cất 2 lò phản ứng hạch nhân vào năm 2012 để có thể đi vào hoạt động năm 2015. Địa điểm dự trù là Phước Dinh, Phước Hải (Ninh Thuận), và Hòa Tân (Tuy Hòa, Phú Yên). Kinh phí dự trù cho hai dự án kể trên là 3 tỹ Mỹ kim.



Ngay sau khi quyết định nầy được phổ biến vào đầu năm 2004, nhiều nhà khoa học trong nước và ngoại quốc đã bày tỏ mối quan ngại và lên tiếng phản đối hai dự án trên.



Có nhiều lý do đưa ra cho việc phản đối nầy:



· Địa điểm chọn lựa của hai vùng hoang mạc khô cằn, thưa dân cư, không thuận tiện cho việc di chuyển của nhân công và ban quản lý nhà máy trong tương lai;

· Ở cả hai vùng, không có hạ tầng cơ sở tối thiểu cho nhu cầu yểm trợ việc xây cất, vận chuyển, cùng nhu cầu về xã hội, y tế, và sinh hoạt hàng ngày của công nhân như điện nước v. v...;

· Và nhất là, hiện tại Việt Nam chưa có khả năng cũng như không có dự kiến đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực nầy trong một tương lai gần.






Vấn đề nguyên liệu nguyên tử là một vần đề cốt lõi mà chắc chắn Việt Nam không thể nào chủ động và kiểm soát được vì tùy thuộc vào quốc gia cung cấp. Chất Uranium và khả năng tinh luyện chất nầy để dùng cho lò phản ứng hạch nhân cần những nhân sự thật chuyên môn và nhiều kinh nghiệm mà việc đào tạo đòi hỏi ít nhất vài chục năm.

Xây cất một lò phản ứng hạch nhân chỉ là giai đoạn sau cùng trước khi hoàn tất các giai đoạn kể trên. Về nhân sự, sự yếu kém về tri thức công nghệ, kiến thức quản lý, cũng như khả năng chuyên môn trong lãnh vực nguyên tử và hạch nhân sẽ là những cản ngại lớn khiến cho việc thiết lập lò phản ứng khó có cơ may thực hiện hay chỉ thực hiện nửa chừng...

Thêm nữa, theo ước tính của một số nhà khoa học trong và ngoài nước thì tiềm năng của Việt Nam về than đá, dầu mỏ, khí đốt, cùng với việc khai thác và phát triển những loại năng lượng trong tầm tay như năng lượng gió, năng lượng mặt trời... Việt Nam vẫn còn có thể dư thừa năng lượng dùng cho việc phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2030. Để rồi, vào thời điểm nầy, Việt Nam có đủ thời gian để chuẩn bị ngay từ bây giờ để có thể tránh được những cản ngại vưà kể trên trong tương lai.

Thêm nữa, trong giai đoạn nầy, những lò thuộc thế hệ IV đã được áp dụng trong một thời gian vừa đủ để cho các quốc gia Tây phương có khả năng và kinh nghiệm điều chỉnh những bất ngờ trong vận hành.

Để rồi, sau đó Việt Nam có thể áp dụng công nghệ nầy an toàn hơn cho công cuộc phát triển quốc gia.

Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay (5/2010), nhà cầm quyền Việt Nam vẫn không để ý đến những khuyến cáo của các nhà làm khoa học trong nước hay hải ngoại, vẫn tiếp tục cho đấu thầu để xây dựng hai lò nguyên tử trên, và dự trù xây dựng và khánh thành vào khoảng năm 2016. Nhà thầu tương lai vẫn sẽ là Trung Cộng (?) mặc dù Việt Nam đã thương lượng với Nga, Nhật Bản và ngay cả Hoa Kỳ qua các kinh nghiệm “đấu thầu” của Việt Nam trước đây như các gói thầu Bauxite, nhà máy điện, khu kinh tế duyên hải miền Bắc v.v....

Một câu hỏi được đặt ra là, có phải chăng việc khai thác Bauxite hiện tại của TC ở cao nguyên Trung phần Việt Nam chỉ là Diện để che đậy Điểm là khai thác quặng mõ Uranium ở Nông Sơn và vùng cao nguyên nầy?

Và hai công trình khai thác quặng và xây dựng hai nhà máy điện nguyên tử có liên quan mật thiết với nhau hay không qua sự tính toán giữa Trung Cộng và cộng sản Việt Nam?

Bài học Cherbonyl ở Liên Sô cũ còn đó, và bài học mới nhứt ở Dung Quất là phải đình chỉ sản xuất (cho đến bao giờ?) ngay sau khi vận hành hai mẽ thử nghiệm vì các hệ thống sensor nguyên tử dùng để điều chỉnh nhiệt độ và áp suất với độ chính xác cao không hoạt động đúng theo quy trình sản xuất. Thảm nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Kỹ thuật TC còn thô sơ, do đó xác suất xảy ra tai nạn càng lớn hơn nữa. Và nơi xây dựng nhà máy chính là nơi cư trú của đồng bào thiểu số Chàm ở tỉnh Ninh Thuận, một dân tộc hiếu hòa và đang trên đà bị diệt chủng. Có phải đây là một dụng ý thâm hiễm để giải quyết một tình trạng sắc tộc tế nhị?

Hãi ngoại chúng ta phải làm gì để cứu một dân tộc đã được xem là có cùng nguồn gốc với dân Việt thời xa xưa?



Mai Thanh Truyết

http://www.khoahoc.net/baivo/maithanhtruyet/170610-nangluongnguyentu.htm

Thursday, June 3, 2010

Ra mắt động cơ điện nhẹ cho xe đạp




Ra mắt động cơ điện nhẹ cho xe đạp
Cập nhật lúc 16h13' ngày 13/05/2010

* Bản in
* Gửi cho bạn bè
* Phản hồi

Xem thêm: công nghệ, động cơ điện, xe đạp, thân thiện với môi trường

Một công ty luyện kim của Thụy Sỹ vừa cho ra mắt mẫu động cơ điện thân thiện với môi trường và mang lại hiệu suất sử dụng năng lượng cao hơn các động cơ hiện nay.

Công ty Höganäs, Thụy Sỹ, vừa cho ra mắt mẫu động cơ điện được thiết kế dành cho các xe đạp điện, xe máy điện và các phương tiện di chuyển hạng nhẹ khác.

Động cơ này ứng dụng những lợi thế của công nghệ “luyện kim bột”, mang tới hiệu suất hoạt động cao nhưng kích cỡ động cơ nhỏ, cho phép xe đạp điện di chuyển tới 75 km sau khi sạc đầy.

Power of Powder: mẫu xe đạp điện sử dụng động cơ điện kiểu mới của hãng Höganäs.

Động cơ điện này đang được trưng bày tại Triển lãm Quốc tế World Expo, Thượng Hải, Trung Quốc, một trong những thành phố có ngành sản xuất và tiêu thụ xe đạp điện lớn nhất thế giới.

Höganäs là nhà sản xuất đứng đầu về công nghệ luyện kim bột. Công nghệ luyện kim bột bao gồm việc giảm kích cỡ của các hạt kim loại đến mức độ phân tử, nung nóng và phun – đúc thành hình dạng mong muốn.

Phương pháp này có thể tạo nên những sản phẩm phức tạp với tình đồng nhất cao và nguyên liệu được sử dụng triệt để hơn.

Động cơ điện chế tạo theo phương pháp luyện kim bột của hãng Höganäs.

Alrik Danielson , Giám đốc điều hành của Höganäs Group, cho biết: “Chúng tôi chọn xe đạp điện là ứng dụng đầu tiên của loại động cơ này. Động cơ xe đạp là một thách thức về cả hiệu suất cũng như chi phí nhưng chúng tôi tự tin rằng chúng tôi có một sản phẩm tuyệt vời. Nó nhẹ hơn các động cơ điện khác và đối với một chiếc xe đạp điện, phạm vi di chuyển 75 km là khá cao”.

Động cơ xe đạp điện là một ví dụ cho sức mạnh của công nghệ bột kim loại. Động cơ này có hiệu suất cao và rất nhỏ gọn cho các ứng dụng dẫn động trực tiếp.

"Bằng cách kết hợp tỷ số công suất trên khối lượng cao với thiết kế kiểu mô-đun, động cơ này phù hợp với hàng loạt các ứng dụng bổ sung cho xe đạp điện, xe máy điện, các phương tiện di chuyển hạng nhẹ khác, máy bơm, quạt và máy phát điện”, Danielson cho biết.

Cấu tạo bên trong của động cơ điện do công ty Höganäs sản xuất.

Stato của động cơ được sản xuất bằng công nghệ luyện kim bột từ các phế liệu kim loại và thiết kế của động cơ cho phép dễ dàng tái chế. Động cơ này cũng sử dụng ít nam châm tự nhiên và dây đồng hơn so với các động cơ điện thông thường.
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/28018_Ra-mat-dong-co-dien-nhe-cho-xe-dap.aspx

Tuesday, May 18, 2010

Hạt thóc có niên đại 3.500 năm tuổi hồi sinh


Hạt thóc có niên đại 3.500 năm tuổi hồi sinh?
Giới khoa học Việt Nam không khỏi sửng sốt trước thông tin một số hạt thóc vừa được khai quật tại thành Dền (Mê Linh, Hà Nội), có niên đại cách đây hàng nghìn năm lại có thể nảy mầm. Sự kiện hy hữu này đang được chờ giải mã

Vừa qua, Phó giáo sư, Tiến sĩ Lâm Thị Mỹ Dung và cộng sự khi khai quật tại thành Dền đã thu được một số hạt thóc từ tầng văn hóa Đồng Đậu. Sau vài ngày cho vào nước để ngâm, các nhà khoa học hết sức ngạc nhiên khi thấy một vài hạt trong số đó đã nảy mầm, đâm lá.

Băn khoăn về hiện tượng “có một không hai” này, các nhà khảo cổ đã gửi mẫu thóc tới Viện Di truyền Nông nghiệp (thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) để nghiên cứu.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Huy Hàm (Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp), trong số 100 hạt thóc viện này nhận được đã có 6 hạt nảy mầm. Ông cũng cho hay, về lý thuyết và thực tiễn đều không thể có hiện tượng thóc tồn tại nguyên vẹn trong tự nhiên với thời gian khoảng 3.500 năm.

Đồng tình, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đình Long (Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam) cho biết, thông thường hạt thóc sẽ mất sức nảy mầm sau vài năm. Thậm chí, nếu bảo quản trong kho lạnh sâu cũng chỉ kéo dài khả năng nảy mầm vài chục năm.

Tuy nhiên, ông Long cũng không ngoại trừ có khả năng “đặc biệt” nào đó giúp hạt thóc kỳ lạ trên nảy mầm.

Một số nhà khảo cổ cho rằng, trước đây trong những cuộc khai quật, các nhà nghiên cứu từng thu được nhiều mẫu vật là thóc thuộc văn hóa Đồng Đậu. Song, tất thảy chúng đều bị phong hóa và không có hạt thóc nào có thể “hồi sinh” như sáu hạt thóc lần này.

Lại có ý kiến khác nghi ngờ rất có thể những hạt thóc này được chuột tha đến tầng văn hóa được khai quật nọ, do đó những hạt thóc nảy mầm "tuổi tác" cũng không nhiều như vậy và có khả năng nảy mầm...

Bởi vậy, đông đảo giới khoa học, người dân đều chờ đợi sự lý giải của các cơ quan chuyên môn về hiện tượng kỳ lạ trên.

Về vấn đề này, tiến sĩ Nguyễn Quang Miên, trưởng phòng Thí nghiệm và xác định niên đại (thuộc Viện Khảo cổ) cho hay, có thể dùng phương pháp đồng vị carbon (C14) để xác định tuổi cổ vật. Nhưng phương pháp này chủ yếu được dùng để xác định tuổi cổ vật “đã chết,” tức là từ thời điểm không còn sự trao đổi chất. Vì vậy, với số thóc vẫn nảy mầm (vẫn tiến hành trao đổi chất) thì phương pháp này vẫn có sai số khá lớn.

Tuy nhiên, theo ông Miên, có thể căn cứ vào vật thể chứa số thóc đó như đất bao xung quanh để kết luận chính xác niên đại của số hạt thóc nói trên.

Còn ông Hàm thì cho hay, các hạt thóc này đang được chăm sóc cẩn thận và theo dõi kỹ lưỡng để giúp nó trổ bông, cho thu hoạch. Khi đó, Viện Di truyền nông nghiệp sẽ tiến hành giải trình tự gen của hạt thóc để đưa ra kết quả chính thức về niên đại của những hạt thóc này./.
http://vovnews.vn/Home/Hat-thoc-co-nien-dai-3500-nam-tuoi-hoi-sinh/20105/144096.vov

Monday, May 3, 2010

Cung cấp điện lực cho trên 100,000 căn nhà bằng ánh sáng mặt trời

Cung cấp điện lực cho trên 100,000 căn nhà bằng ánh sáng mặt trời



Các nguồn điện năng
Các nhà máy điện sử dụng nhiều nguồn năng lượng khác nhau để cung cấp điện cho đủ mọi giới trong nước. Tại Hoa Kỳ này, tỷ lệ bách phân của một số các nguồn năng lượng chủ yếu được sử dụng để tạo nên điện lực, tính đến hết năm 2008 và theo tài liệu thống kê của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ là như sau: Than đá: 48.9%; khí đốt thiên nhiên: 20.00%, nguyên tử: 19,30%, thủy điện 7,10%: dầu hỏa: 1,60%.; tổng cộng cho từng ấy nguồn là coi như 98%. “Các nguồn năng lượng khác” để tạo nên điện lực là trên dưới 2 %. (Bên Pháp thì nguồn điện năng từ nguyên tử lực là 76,10%, còn nguồn sử dụng than đá rất thấp: 3,90% )
Nắng và gió
Ba nguồn năng lượng chủ yếu trong số các nguồn nặng lượng “khác” để tạo nên điện lực là từ sức gió, từ ánh sáng mặt trời và từ sức nóng dưới lòng đất. Tạo nên điện năng từ sức gió thì đối với người bình thường hầu như ai nấy cũng đã có một ý niệm, cho dù có lơ mơ đến mấy, khi gặp dịp đi đó đi đây ra ngoài thành phố, thấy xa xa trong tầm mắt những cột hay tháp được dựng lên cạnh các ngôi nhà kiểu nông trại, và trên ngọn cột hay “tháp” thì có một cây quạt thật to, với ba cánh quay khá uể oải theo sức gió bình thường. Ở một phạm vi quy mô hơn, và cũng đối với nguồn năng lượng tạo điện lực từ sức gió thì đối với dân miền Nam hay Bắc Cali. Chẳng hạn, những ai từ miệt Nam đi San José hoặc từ San José xuôi Nam, chạy xe trên xa lộ 5, khúc phía Nam của đường đèo 152, nhìn ra những ngọn đồi giữa khoảng sa mạc hoang vu về hướng Tây, nếu để ý thì sẽ thấy một giàn các ngọn tháp cao ngất ngưởng trên nền trời với những cây quạt ba cánh quay từ tốn theo sức gió vào một ngày trời quang mây tạnh. (Gặp những ngày giông bão lớn thì một là người ta chẳng lai vãng trên đường lộ làm gì nếu như không cần thiết, và hai là vạn nhất có phải đi đâu ra các vùng hẻo lánh đó thì lo mà chạy cho kịp đến nơi mình muốn đến chứ chả còn tâm trí đâu mà để ý quan sát coi xem những cánh quạt kia vào những ngày gió lớn như thế thì chúng quay ra sao, nhưng nếu không “nhanh như chong chóng” thì cũng không khoan thai như những ngày thường!) Nguyên tắc tạo nên điện năng nhờ sức gió tương đối giản dị: Gió thổi quay cánh quạt, trục của cánh quạt khi quay theo quạt thì khởi động một máy phát điện (“generator”) tạo nên nguồn điện (theo như sơ đồ trong Hình 1 đính kèm ).
Ðối với nguồn năng lượng từ ánh sáng mặt trời để tạo nên điện năng thì đối với ta lại càng quen mắt hơn nữa. Giản dị nhất là những cái đèn cắm dọc theo lối đi dẫn vào nhà mà ta ra ngoài “Home Depot” mua về để cắm lên bờ cỏ dọc theo lối đi tráng xi-măng hay “bê-tông” dẫn vào ga-ra hay vào nhà. Ban ngày, những miếng kính loại “đặc biệt” tiếp nhận ánh sáng mặt trời, tạo nên nguồn điện được nạp vào một bình điện bên trong cây đèn. Chiều tối đến, một loại “kính đặc biệt” khác, loại “photo electric”, được gắn nơi đèn, có khả năng “phản ứng” theo độ sáng xung quanh, kích động vào bình điện và đèn bật sáng khi trời tối.
Ðể tạo nguồn điện sử dụng cho các tư gia thì cũng vẫn theo nguyên lý chủ yếu đó mà ngày nay nếu để ý thì ta thấy những tấm kính loại “đặc biệt” đó phủ lên từng mảng lớn trên mái nhà, chỉ có điều là đến khi trời tối hoặc lúc nào cần sử dụng điện trong nhà thì người ta bật chốt mở điện (“công-tắc”) .
“Solar Một”, “Solar Hai”
Ở đoạn trên, ta có đề cập đến cảnh những cánh quạt gió dọc theo một đoạn đường của xa lộ “I-5” ở Cali. Vậy thì cũng tại Nam Cali., những ai có dịp đi Las Vegas bên tiểu bang láng giềng Nevada và chạy xe trên xa lộ 15 thì mười năm trước đây - nếu như để ý - cũng đã thấy ngoài khu sa mac kế cận thành phố Barstow một cái tháp cao vọi, chẳng khác gì một ngọn hải đăng mà nếu gặp lúc nắng sớm hay nắng chiều thì cũng phản chiếu ánh sáng chói lòa chả khác gì một ngọn hải đăng về đêm ngoài bờ biển. Chỉ có khác với ngọn hải đăng là thay vì chiếu ánh sáng ra ngoài trời thì nó lại có “phận sự” là tiếp thu ánh sáng từ ngoài vào. Không phải ánh sáng ngoài không gian trong ngày mà là ánh sáng mặt trời qua trung gian của 1818 tấm kính phản chiếu, mỗi tấm to ngang ngửa với những biển quảng cáo dựng trên các cột trụ dọc theo các xa lộ mà ta vẫn quen mắt. Các tấm kính đó được bố trí theo hàng lớp cố định, theo những độ nghiêng nhất định nào đấy , và được rải ra quanh cái ngọn tháp kia. Nhiệm vụ của chúng là phản chiếu ánh sáng mặt trời sao cho từng ấy nguồn ánh sáng phản chiếu từ 1818 tấm kính đó hội tụ về một hệ thống kính quanh ngọn tháp. Thuật ngữ kỹ thật của nguồn năng lượng từ ánh sáng mặt trời đó được mệnh danh trong tiếng Anh là “Concentrating Solar Power”, “năng lực hội tụ từ ánh sáng mặt trời”, dưới ký hiệu tắt của nó là “CSP”.
Nguyên lý căn bản của hệ thống này (sơ đồ đính kèm qua Hình 2) là như sau:
- Hệ thống các mặt kính tập trung ánh nắng phản chiếu vào bộ phận tiếp thu tất cả các nguồn ánh sáng đó trên ngọn tháp.
- Chất lỏng được nung nóng trong bộ phận tiếp thu nêu trên tạo nên hơi nóng.
- Áp suất của hơi nóng được truyền qua một máy “tua-bin” (“turbine”) tác động vào một máy phát điện để tạo nên nguồn điện.
Từ năm 1982 cho đến năm 1988, tại vùng sa mạc giáp ranh với thành phố Barstow nói trên đã có một công trình thí nghiệm ở mức độ quy mô và theo như phương thức vừa nêu, gọi là “Solar One,” với tiềm năng tạo ra 10 “Megawatt” điện, đã thực sự có khả năng phát ra 38 triệu “ki-lô watt/giờ”. Ấy là chuyện thí nghiệm, bởi theo tài liệu của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ thì các hệ thống phát điện dựa vào ánh sáng mặt trời như thế để phục vụ nhu cầu thương mại, do các công ty tư nhân đảm trách, có khả năng cung cấp đến 200 “Megawatts”, tức 200 triệu “watts” điện năng.
Và trung tâm thí nghiệm “Solar One” đó là những thiết bị mà trước 2000 người ta vẫn có thể thấy xa xa, ngoài sa mạc, gần thành phố Barstow trên xa lộ 15 của California nối liền với Nevada.
Sau đợt thí nghiệm của trạm “Solar One” từ 1982 đến 1988 như đã ghi, thì cũng trong vùng sa mạc “Mojave Desert” đó ở California, người ta cải biến dự án “Solar One” thành dự án “Solar Two” bằng cách gia tăng số mặt kính phản chiếu ánh sáng mặt trời, gọi là “heliostats”. Không còn là 1818 tấm nữa mà tăng lên thành 1926 tấm, với số 108 tấm ở vòng ngoài số đã có sẵn, có diện tích cho mỗi tấm được gia tăng , bằng 95 mét vuông. Tổng số diện thích cho Solar One nơi vùng sa mạc đó đã là 82.750 mét vuông.
Và bấy giờ thì “Solar Two” mới cò khả năng phát ra được 10 “megawatts”, tức 10.000.000 “watts”.
Nhưng thay vì dùng nước hay dầu được đun nóng như trước kia để tao hơi chuyển động “tua-bin” cho máy phát điện thì với “Solar Two” người ta sử dụng 60 % “sodium nitrate” và 40 % “potassium nitrate” để sức nhiệt lược tiếp thu từ ánh sáng mặt trời đun nóng hỗn hợp đó thành chất lỏng nhằm tạo hơi để lấy áp suất của nó mà chuyện động hệ thống “tua-bin”. Quá trình này là nhằm giải quyết mục tiêu tồn trữ năng lượng vào những lúc không có ánh sáng mặt trời hoặc gặp những ngày có mây mù. Chất muối được đun lỏng có thể cho phép người ta tồn trữ năng lượng bằng cách đem chứa nó vào các bồn lớn như các bồn chứa xăng dầu để rồi sử dụng trở lại về đêm, khi không còn ánh sáng mặt trời.
Dự án “Solar Two” đã kết thúc với thành quả mỹ mãn vào năm 1999, (và sau đó thì viện đại học University of California, Davis - UCDavis - biến cải nó thành đài viễn vọng kính “Cherenkov Telescope” vào năm 2001 để đo các tuyến “Gamma” xâm nhập vào khí quyển)
Từ thí nghiệm đến làm thật
Tại California người ta ước tính là hiện đang có không dưới 80 dự án thiết lập các trung tâm phát điện dựa vào ánh sáng mặt trời kiểu như vừa được mô tả.
Hiện đang có một dự án như thế còn trong quá trình được thiết lập một cách cụ thể, tại một địa điểm nơi vùng Tây Nam, nhắm cung cấp điện cho ít nhất là 100.000 căn nhà, với sự hợp tác của hai công ty “Solar Reserve” có trụ sở chính ở Santa Monica và công ty “Rocketdyne” ở Canoga Park, cả hai cùng đều ở Nam Cali. Một đàng lo chuyện vốn liếng là chủ yếu còn một đàng - “Rocketdyne” - thì lo chuyện kỹ thật. Danh xưng của “Rocketdyne” có chữ “rocket” là “hỏa tiễn” trong đó. Thì đúng nó là công ty từ xưa vẫn chuyên về kỹ thuật phản lực và từ đó nới rộng tầm nghiên cứu qua một số mặt khác phục vụ ngành khoa học không gian. Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, nó được thiết lập để nghiên cứu về cái hỏa tiễn “V2” của Ðức Quốc Xã. Về sau này nó là công ty phát triển hệ thống cung cấp điện do ánh sáng mặt trời cho “Trạm không gian quốc tế” - “International Space Station” - hiện vẫn đang bay lơ lửng trên quỹ đạo. Nó làm ra hệ thống phản lực cho tàu con thoi không gian ố “space shuttle,” và lực đẩy cho thiết bị thám sát mặt trăng - “lunar module.” Tại sao “Solar Reserve” lại dựa vào chuyên ngành kỹ thuật của một công ty có kinh nghiệm về hỏa tiễn? Là bởi cái bộ phận tiếp thu ngần ấy nguồn ánh sáng mặt trời từ cả nghìn tấm kính phản chiếu kia cũng sẽ có khả năng tụ nhiệt ở bên trong ít nhất là 1000 độ F, chả khác gì bên trong đầu một hỏa tiễn khi chịu sức ma sát, sức ép của không khí trên đường bay khi chưa ra khỏi khí quyển hay khi trở vào khí quyển.
Câu hỏi được đặt ra: Nếu thành quả thí nghiệm thời thập niên 80 ở Cali. mà khả quan như vậy thì tại sao từ ngày đó người ta không cứ cái đà đó “làm tới” mà để đến mãi tận ngày hôm nay mới lại lôi các dự án đã thành công đó để “bổn cũ soạn lại”? Có hai nguyên do: Các tính toán về mặt giá cả và các mặt “dân tình thế thái” đối với những khía cạnh môi sinh, mội trường.
Thời đó giá ga thiên nhiên chỉ bằng một phần mười so với giá biểu ngày nay; bởi thế mà xài ga thời đó xem chừng rẻ hơn xài điện. Ðầu tư vốn liếng - không nhỏ - để cung cấp thêm điện năng trong lúc thiên hạ thích xài ga hơn thì còn kiếm ăn được cái chỗ nào? Kế đấy thì mười năm trước đây thiên hạ cũng chưa đến nỗi quan tâm như bầy giờ đối với các mặt môi trường, môi sinh! Và nói đến đấy thì với các đồ án thiết lập những trung tâm phát điện trong tương lai, kiểu như cái người ta đang rục rịch triển khai, thì cũng đã bắt đầu có những ý kiến xoay quanh mấy vấn đề như sau:
Lại những vấn đề có liên quan đến môi sinh
Ðặt cả mấy nghìn tấm kính to tướng như vậy để hứng rồi phản chiếu ánh sáng mặt trời thì diện tích đất đai cần thiết đâu có phải là nhỏ? Hạng bét thì diện tích đó cũng phải gấp đôi cái “Square Mile Park” ở vùng Orange County tại Cali., tiếp giáp với khu “Little Saigon”. Cái công viên đó là một dăm vuông thì đất đai dành cho dạng trung tâm phát điện kia phải là hai đam vuông, ảnh hưởng đến mội trường sinh thái xung quanh là rõ ràng.
Thứ đến, có trung tâm phát điện thì sẽ phải có các đường dây tải điện, trước hết là cao thế - “high voltage”. Lại ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái, như dân cư ai có nhà gần các đường dây điện cao thế thì đã từng biết.
Rồi lại phải sử dụng nước để giải nhiệt cho các bộ phận của hệ thống phát điện đó; mà đất Cali. thì không sẵn nước.
Phía các nhà chuẩn bị đầu tư thì tất nhiên họ cũng có những lời biện bác của họ; chẳng hạn như:
Xài muối đun thành thể lỏng thì sẽ chỉ xài một phần mười lượng nước nếu như hơi nước được sử dụng để cho chạy “tua-bin” chỉ là nước thuần túy.
Mấy nghìn tấm kính kia thì nó hướng cả lên trời và hội tụ ánh sáng vào bộ phận tiếp thu trên cái tháp cao chót vót kia thì đâu có làm chói mắt ai dưới mặt đất?...
Một phim xi-nê thuộc loại đã trở thành “Classic' trong kho phim ảnh của Mỹ là phim “The ten commandments” do cố nam diễn viên Charlton Heston thủ vai ông Mô-se. Trong phim có đoạn ông Mô-se trên đường đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập, trước khi đến Hồng Hải, thì bị đạo quân của vua Pharaon Ai Cập kéo quân đuổi theo. Người dưới trướng của ông Mô-se có nhiệm vụ cầm quân bèn dàn quân trước một bờ vực thẳm trong khi quân của ông Pharaon Ai Cập thì rầm rộ kéo đến, cát bụi tung trời, đến phía bờ vực đối diện. Quân Do Thái đứng hướng về ánh mặt trời, trong khi quân của vua Ai Cập ào tới với ánh mặt trời từ phía sau lưng. Thế đất bằng cho nên từ xa quân của vua Ai Cập chưa kịp thấy bờ vực. Phía bên này, quân Do Thái chờ cho đến khi người và ngựa của kỵ binh Ai Cập kéo gần đến thì bèn nhất loạt đưa những tấm khiên có một mặt bằng kim khí lên để chúng có tác dụng như những tấm gương hắt ánh sáng chói lòa của mặt trời về phía đám kỵ binh Ai Cập. Phía bên kia bị hoa mắt, chỉ lo lấy tay che mắt cho nên không còn để ý đến bờ vực, do đó mà không biết cơ man nào là người và ngựa ngã xuống vực sâu. (Không chết hết, bởi sau đó khi đuổi tiếp xuống đến Hồng Hải, rồi ông Mô-se đưa cây gậy của ông lên cho biển khép trở lại thì bấy giờ quân Ai Cập lại chết thêm một mớ nữa; khiến các nhà khảo cổ, các nhà sử học, các nhà thần học cho đến nay vẫn cứ thắc mắc xem cái hôm bi thảm cho quân của Ai Cập đó thì ông vua Ramses kia của Ai Cập có chết trong Hồng Hải hay không.)
Mai kia mà ở đất Cali này hay một nơi nào khác mà có những trung tâm phát điện nhờ năng lượng của ánh sáng mặt trời thì trước hết, đám con cháu của vua Pharaon Ai Cập khi xưa, trên những chuyến máy bay sắp sửa hạ cánh rồi chợt nhìn xuống mà thấy cả nghìn tấm kính phản chiếu áng sáng mặt trời từ dưới đất lóe lên thì thể nào cũng lại phải một phen kinh hoàng.

http://vietinpdx.com/index.php?mod=article&cat=phatminhmoi&article=538

Nắng châu Phi sẽ trở thành năng lượng cho châu Âu

Nắng châu Phi sẽ trở thành năng lượng cho châu Âu




Pin năng lượng Mặt trời ở châu Âu. Ảnh: examiner

Nếu không có gì thay đổi, tháng 7 tới, 20 tập đoàn tài chính và năng lượng hàng đầu của Đức sẽ thành lập liên doanh để chung tay thực hiện dự án Desertec - khai thác nắng trên các sa mạc châu Phi và biến thành điện năng truyền về châu Âu. Nếu dự án đầy tham vọng trị giá tới 400 tỉ euro này thành công, trong vòng 10 năm tới, điện Mặt trời sẽ trở thành một trong những nguồn năng lượng chủ lực, đáp ứng 15% nhu cầu điện năng của châu Âu. Đồng thời nó sẽ giúp cựu lục địa dễ dàng đạt được mục tiêu: tới năm 2020 ít nhất 20% năng lượng tiêu thụ được khai thác từ các nguồn tái sinh.

Theo Viện Năng lượng thuộc Ủy ban châu Âu, tiềm năng năng lượng ở các sa mạc phía Nam Địa Trung Hải là vô hạn. Chỉ cần khai thác 0,3% ánh nắng chiếu xuống Sahara và các sa mạc Trung Đông là có thể đáp ứng nhu cầu điện của toàn châu Âu. Dự án Desertec hướng tới xây dựng các nhà máy năng lượng Mặt trời tại nhiều địa điểm ở Bắc Phi. Có khả năng các nhà đầu tư sẽ chọn đặt nhà máy ở Maroc, Libye và Algérie do giá đất ở những nước này tương đối rẻ và tình hình chính trị ổn định.

Desertec sẽ áp dụng công nghệ “tập trung năng lượng Mặt trời” (CSP) - dùng những tấm gương lớn hội tụ tia nắng vào một cột nước ở giữa. Ánh nắng sẽ đun sôi nước, biến nước sang dạng hơi và sau đó hơi sẽ được dùng để chạy tua-bin sản xuất điện năng sạch, không phát thải khí carbon gây hiệu ứng nhà kính. Sau cùng, điện sẽ được chuyển về châu Âu bằng hệ thống truyền tải dòng điện trực tiếp cao áp.

http://vietinpdx.com/index.php?mod=article&cat=phatminhmoi&article=788

Tiết lộ những tòa nhà thông minh, kỳ vĩ nhất thế giới

Tiết lộ những tòa nhà thông minh, kỳ vĩ nhất thế giới

Sự phát triển bền vững đã trở thành một trong những chủ đề chính trên toàn thế giới. Để tận dụng tối đa nguồn năng lượng, bảo vệ môi trường và thay đổi cho phù hợp với đà phát triển chung của xã hội, các kiến trúc sư đã thiết kế ra những tòa nhà sinh thái có kết cấu kỳ vĩ và bay bổng, vượt xa biên giới của những khuôn khổ sẵn có.




Tòa nhà năng lượng mặt trời của Dubai.
Thế nhưng những kiến trúc sư có óc sáng tạo phi thường của Dubai vẫn muốn tạo ra nhiều “phép lạ” mới bằng cách xây dựng thêm một tòa nhà sử dụng năng lượng mặt trời to lớn cho thành phố này.

Tòa nhà mang tên Graft Lab có hệ thống kính và các thanh thu năng lượng mặt trời trên tất cả bề mặt ngoài. Cụm công trình hỗn hợp sử dụng hệ thống thu năng lượng mặt trời ở phía nam với các trục tự động có bề mặt tiếp xúc tối đa.

2. Nhà máy nước ngọt hình bong bóng ở Tây Ban Nha

Nhà máy nước ngọt này bao gồm một loạt các tầng tháp hình cầu bằng kính chồng lên nhau. Từ bên ngoài, nó trông giống như một cột bong bóng xà phòng khổng lồ. Các vòm kính của tòa tháp đóng một vai trò quan trọng trong việc biến nước biển thành nước ngọt thông qua hệ thống lọc bằng cây ngập mặn.
Nhà máy nước ngọt hình bong bóng ở Tây Ban Nha.
Khi các rừng ngập mặn phía dưới hút nước biển rồi tự “tóat mồ hôi”, hơi nước của nó sẽ bốc hơi và ngưng tụ thành sương rồi thu vào trong các bể nước ngọt.

3. Tòa nhà One & Ortakoy tại Istanbul

Công trình kiến trúc đa chức năng và phúc tạp này mang tên One & Ortakoy nằm ở Thủ đô Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ. Những mái vòm hình cánh cung uốn lượn của tòa nhà sẽ được bao phủ bởi hệ thống cây xanh và hoa rất đẹp. Phía dưới của tòa nhà được xây dựng bằng đá tự nhiên với kiến trúc cầu kỳ mô phỏng tòa nhà như một núi đá thực thụ.
Tòa nhà One & Ortakoy tại Istanbul.
Mục đích của việc xây dựng công trình này, ngoài việc gần gũi với thiên nhiên còn để chứng tỏ khả năng làm nên những tác phẩm kiến trúc cầu kỳ và phức tạp của các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng của Thổ Nhĩ Kỳ.

4. Trường trung học Marcel Sembat, Pháp

Trường trung học Marcel Sembat ở Sotteville-les-Rouen của Pháp nằm bên cạnh một công viên sẽ được xây dựng để gần như biến mất vào trong cây và cỏ của môi trường xung quanh.
Trường trung học Marcel Sembat, Pháp.
Các dự án mở rộng bao gồm một nhà hàng, ký túc xá sinh viên, nhà ở cán bộ và hội thảo. Mái nhà sẽ được bao phủ bởi một lớp cây xanh và được coi là vật liệu cách nhiệt tự nhiên và hiệu quả nhất đối với môi trường.

5. Tháp nước chọc trời mang nước ngọt đến Sudan

Trong sa mạc Sudan rộng lớn, nước ngọt trở thành một trong những nguồn tài nguyên quý giá. Trớ trêu thay, vùng sâu dưới bề mặt khô nóng của đất nước này là hồ nước ngầm lớn nhất thế giới. Hồ nước sẽ thay đổi cuộc sống người dân nếu nó được khai thác và đưa vào sử dụng hiệu quả.
Tháp nước chọc trời mang nước ngọt đến Sudan.
Công ty kiến trúc H3AR của Ba Lan đã nghĩ ra giải pháp xây dựng tháp nước chọc trời mang nước ngọt từ lòng đất lên cho người dân Sudan. Công trình được lấy cảm hứng từ tháp nước và cây của bản địa. Những tòa tháp sẽ có một nhà máy xử lý nước, bệnh viện, trường học và một của hàng thực phẩm ngay ở bên trong.

6. Tháp hứng mưa thông minh

Làm thế nào để một tòa nhà có khả hứng nước mưa nhiều nhất có thể? Các kiến trúc sư tài năng đã thiết kế ra một tòa nhà có thể tự cung cấp nước sinh hoạt thông qua hệ thống máng hứng mưa bên ngoài.
Tháp hứng mưa chọc trời.
Những vòng máng khổng lồ sẽ bao quanh toàn bộ tòa nhà để hứng mưa rồi dẫn nước vào bể chứa ngầm dưới lòng đất. Bể chứa này sẽ có chức năng lọc và xử lý nước rồi đưa nước vào để sử dụng trong nhà vệ sinh, máy giặt, vệ sinh và tưới cây trồng của tòa nhà. Trên mái nhà còn có một bể hứng mưa khổng lồ để tận dụng tối đa khả năng chứa nước mưa.

Sau đây là 6 công trình kiến trúc thân thiện với môi trường được thiết kế với quy mô hoành tráng và kỳ vĩ có thể truyền cảm hứng cho bạn:

1. Tòa nhà năng lượng mặt trời của Dubai

Thành phố Dubai vốn nổi tiếng là công trường khổng lồ của thế giới với những tòa tháp chọc trời như Burj Dubai, những khách sạn 7 sao xa hoa lộng lẫy hay những hòn đảo nhân tạo hình cây cọ đẹp đến mê hồn.

Hoài ThưfVTC (Theo Xinhua)
http://vietinpdx.com/index.php?mod=article&cat=khampha&article=4852

Monday, April 19, 2010

Hiện tượng tâm linh kỳ lạ: sau một cơn mê, nói rành một ngoại ngữ

Hiện tượng tâm linh kỳ lạ: sau một cơn mê, nói rành một ngoại ngữ

- Trần Đại Lý -

Một tin tức thời sự về một hiện tượng rất kỳ lạ vừa xảy ra ở nước Croatia, thành phố Knin, chuyện một cô bé gái 13 tuổi, không thấy nói tên, sau một cơn bịnh hôn mê, được chở tới bệnh viện Split’s KB để chữa trị, 24 tiếng đồng hồ sau, cô bé tỉnh dậy với một hiện tượng đáng ngạc nhiên là cô bé nói thông thạo tiếng Đức như một người Đức chánh tông. Ngôn ngữ mẹ thường ngày của cô bé là tiếng Croatia, còn tiếng Đức là một môn học ngoại ngữ của nhà trường, cô bé chỉ mới bắt đầu học, nghĩa là sự thông thạo Đức ngữ của cô bé không phải do sự học hỏi, tập tành có được, không ai có thể thành thạo một ngôn ngữ rất khó như là tiếng Đức, chỉ trong khoảng thời gian qúa ngắn ngủi, 24 tiếng đồng hồ.
(Theo tin Published: 10:46PM BST 12 Apr 2010 http://www.telegraph.co.uk/news/worldnews/europe/croatia/7583971/ Croatian-teenager- wakes- from-coma-speaking-fluent-German.html)


Gia đình cô bé rất vui mừng, nhưng cũng rất ngạc nhiên, không sao giải thích được nguyên nhân, lý do của hiện tượng, mà ngay cả các Bác Sĩ, các chuyên viên y học, y khoa đều không thể giải thích được hiện tượng nầy, một số chuyên viên nhìn nhận rằng cũng có những trường hợp tương tự đã từng xảy ra cho một số người, dù rất hiếm, nhưng không biết tại sao. Có người sau một cơn bịnh nặng, thường là rất nặng, thập tử nhất sinh, có người sau một cơn hôn mê dài, khi tỉnh dậy có thể nói hiểu một, hay vài ngôn ngữ khác, thậm chí nói hay hiểu những thứ ngôn ngữ cổ, những thứ gọi là tử ngữ, ngày nay không còn ai hiểu biết, không ai sử dụng nữa.

Đối với người Việt Nam, nhất là người Miền Nam, miền Tây Nam, vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, chúng ta có thể nhắc đến trường hợp rất đặc biệt của một nhân vật rất đặc biệt trong thế kỷ qua, đó là Đức Huỳnh Giáo Chủ của Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tên thật là Huỳnh Phú Sổ, thuở nhỏ thân xác thường ốm đau bịnh hoạn, nhà lại nghèo ở vùng quê làng Hoà hảo, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ngài chỉ học tới bằng Tiểu Học ở An Giang, nhưng sau một cơn bịnh nặng thập tử nhất sinh, khi tỉnh lại, Ngài đã trở thành một người khác hoàn toàn, Ngài am tường Nho học như những nhà Nho chân chính, Ngài lại có tài thi văn, đối đáp, xuất khẩu thành thơ, và đặc biệt nhất là Ngài thông hiểu Phật pháp hơn hẳn nhà tu hành Phật giáo nào lúc bấy giờ, điều khiến cho mới có 19 tuổi, Ngài đã trở thành Giáo Chủ Đạo Phật Giáo Hoà Hảo, và chỉ trong vòng vài năm truyền giáo, Đạo PGHH đã có số tín đồ lên tới nhiều triệu người.

Trở lại trường hợp cô bé người Croatia, thì đây là trường hợp mới nhất, thời sự nhất, trong số những trường hợp, hiện tượng tương tợ, có điểm cần ghi nhận là cơn hôn mê của cô bé Croatia nầy có hiệu ứng tâm linh ngắn nhất, chỉ có 24 tiếng đồng hồ, thông thường phải là những cơn hôn mê lâu dài, nhiều ngày, nhiều tuần, hoặc nhiều tháng, mới có những hiện tượng tâm linh kỳ lạ xuất hiện, càng hôn mê lâu càng dễ có những hiện tượng tâm linh kỳ lạ xuất hiện.

Các Bác Sĩ điều trị bịnh cho cô bé ở bịnh viện nầy, đang có những nổ lực tìm kiếm những biến chuyển, những thay đổi, hay những gì bất thường xảy ra trong óc não cô bé, để tìm ra lời giải đáp cho trường hợp, hiện tượng kỳ lạ nầy. Nhưng chắc chắn mọi nổ lực tìm kiếm bằng những phương tiện khoa học vật chất hữu hình đều sẽ thất bại, bởi vì đây là một hiện tượng tâm linh siêu hình, không phải là một hiện tượng khoa học, vật chất hữu hình, không thể dùng những phương tiện, kỹ thuật vật chất hữu hình cân đo, đong đếm, lượng định, đánh giá, phê phán, nhận xét những sự việc, sự kiện, hiện tượng, hiện trạng tâm linh, huyền bí, vô hình, siêu hình.

Có người ví công việc tìm kiếm những hiện tượng tâm linh huyền bí siêu hình, bằng những phương tiện khoa học vật chất hữu hình, thực nghiệm, giống như là việc dùng một cái radio tần số AM, đi tìm những chương trình, tiết mục của đài phát thanh có tần số FM. Kết qủa dĩ nhiên là người tìm không thể bắt được những chương trình, thông tin, tiết mục của đài FM, nhưng không phải vì thế mà có thể kết luận là không có làn sóng FM, không có những đài phát thanh, phát sóng nào khác hơn đài AM. Vấn đề ở đây là mình có phương tiện, khả năng, phương pháp tìm kiếm những làn sóng khác hay không, nếu chỉ vì mình không có phương tiện, khả năng, phương pháp, cách thức, nổ lực, thiện chí, vân vân, để tìm kiếm, mà đã vội phủ nhận, phê phán, hay vội kết luận là không đúng, không phải vậy, không thực tế, không minh triết, văn minh.

Nói cách khác, đây là một trường hợp xuất hiện, hoá thân, xuất thế của những linh hồn, tâm linh siêu hình, trong cơ thể cô bé Croatia 13 tuổi, qua một cơn hôn mê, đây là một chuyện có những tính chất kỳ quặc, huyền bí, mông lung, mơ hồ, chuyện vẫn còn rất xa lạ, khó hiểu, khó tin, khó chấp nhận, đối với các nhà khoa học thực nghiệm. Các nhà khoa học thực nghiệm chỉ nhìn nhận những gì có những bằng chứng vật chất hữu hình của khoa học thực nghiệm vốn rất hạn chế, rất tương đối, cho nên họ sẽ hoàn toàn thất bại trong việc tìm hiểu nguyên nhân hiện tượng tâm linh huyền bí của em bé gái 13 người Croatia nầy.

Muốn tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu, giải thích hiện tượng tâm linh siêu hình nầy, không thể dựa vào khoa học thực nghiệm, vật chất, mà phải dựa vào những môn ngành khoa học khác, thí dụ như là ngành khoa học tâm linh huyền bí siêu hình. Từ nhiều ngàn năm qua, nhiều người cũng đã biết đến và đã quan tâm nghiên cứu, học hỏi, thực hiện, thực hành, nhất là những nước Á Đông, Ấn Độ, Trung Hoa, nhưng cho đến nay, các nền khoa học tâm linh huyền bí siêu hình, vẫn còn nhiều xa lạ, bí ẩn đối với nhân loại, con người, dù vậy nó vẫn là một nền khoa học, nghĩa là nó vẫn có những luận cứ, chứng cứ, tác dụng, hiệu quả, ứng dụng, lợi ích, vân vân.

Nghĩa là nó, khoa học, thế giới tâm linh huyền bí vô hình, siêu hình, vẫn là những cái thật, và rất thật, dù nó vô hình hay siêu hình, nó không phải giả, không phải ảo tưởng, hay mơ hồ, hay bịa đặt, cũng không phải chỉ là những thứ, những điều mê tín, dị đoan, hoang tưởng, bịnh hoạn, tâm thần, như nhiều nhà khoa học thực nghiệm vẫn thường kết tội, lên án, chê bai, phủ nhận. Khoa học tâm linh siêu hình, vẫn là khoa học, cho nên nó vẫn có những chứng nghiệm, yếu tố, dữ liệu, sự kiện, và có những ứng dụng hữu ích cho đời sống, xã hội, con người: thể chất, tinh thần, sức khỏe, năng lực, hạnh phúc, khổ đau...

Khoa học tâm linh siêu hình là khoa học về những năng lực siêu hình, kỳ bí, lạ lùng, khó hiểu, đối với nhiều ngùi, nhưng nó vẫn là những sự kiện thật, nghĩa là con người, chúng ta có thể tiếp xúc, có thể kiểm nghiệm, có thể chứng minh, có thể ứng dụng, hưởng dụng, vân vân, qua nhiều trường hợp, nhiều sự kiện của những thực thể tâm linh siêu hình. Trường hợp lạ lùng của cô bé 13 tuổi người Croatia trên đây chỉ là một trường hợp, một thí dụ, nhiều trường hợp tương tự cũng đã từng xảy ra trong đời sống xã hội, con người, Đông Tây Kim Cổ, ở đâu cũng có, thời đại nào cũng có, với nhiều hình thức, sự kiện, sự việc, nhiều thể hiện khác nhau.

Một thí dụ khác, cụ thể hơn, nhiều dữ liệu, tài liệu, bằng chứng, sự kiện hơn, đó là những câu chuyện thật của một người có những năng lực tâm linh rất đặc biệt, lạ lùng, kỳ bí, khó hiểu nhất trong thế kỷ vừa qua, một người Mỹ, tên là Edgar Cayce, sinh ngày 18/03 năm 1877, Tiểu bang Kentucky, mất năm 1945, thọ 68 tuổi. Ông Edgar Cayce đã bỏ ra khoảng thời gian dài 43 năm sử dụng những năng lực tâm linh siêu hình huyền bí, tình cờ ông có được, để giúp đỡ ý kiến, cố vấn chữa trị nhiều bịnh tật nan y (không phải như một Bác Sĩ mà chỉ là một cố vấn y học, sức khỏe, bệnh tật), giải quyết những khó khăn thể xác, tinh thần, nghề nghiệp, tài chánh, vân vân, cho trên 6.000 người.

Lý lịch, thân thế, sự nghiệp, cuộc đời: ông Edgar Cayce là con một người làm farm nghèo khổ, sống và lớn lên trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn, làm việc cực nhọc, vất vả bằng nghề làm farm, rồi làm thợ chụp hình, vất vả, và không đủ sống. Ông Edgar Cayce đã dùng thời giờ hàng ngày của ông để giúp đỡ hàng ngàn người xa lạ hết đau hết bịnh, khó khăn, bằng những năng lực tâm linh siêu hình, không phải bằng những phương tiện y học y khoa thực nghiệm, có khi ông cũng chỉ cho những món thuốc dùng, nhưng thuốc men không phải là đối tượng chính yếu trong việc trị bịnh của ông Edgar Cayce. Điểm lưu ý là ông Edgar Cayce chỉ giúp đỡ chữa trị bịnh tật cho người khác với tính cách nhân đạo, hoàn toàn miễn phí, ông không bao giờ dùng những năng lực tâm linh nầy để kiếm sống, kiếm tiền, ngay cả qùa cáp đền ơn, ông cũng không nhận, khi nào ông hay người nhà của ông nhận qùa cáp của ai, thì ông sẽ bị những sự trừng phạt nào đó, như cơ thể ốm đau, bịnh hoạn, thường là bị chứng nhức đầu dữ dội hành hạ!

Edgar Cayce đã tình cờ khám phá những năng lực tâm linh siêu hình, khi ông hãy còn là một đứa bé lên 10 tuổi, nhưng ông Edgar Cayce chỉ có những khả năng tâm linh siêu hình trong những cơn mê, qua sự tiếp xúc với những năng lực siêu hình là “linh hồn”. Ông có khả năng tiếp xúc với những linh hồn kỳ lạ mà người khác không làm được, chính là phần tâm linh siêu hình gọi là linh hồn nầy đã giúp cho cá nhân ông Edgar Cayce, hiểu biết điều nầy, điều kia, hướng dẫn điều nầy điều nọ, chữa trị bịnh tật, ốm đau, giúp đỡ người nầy người khác, nói đến chuyện nầy, chuyện kia, những chuyện qu ákhứ và cả những chuyện vị lai, chớ không phải là phần thể xác của ông Edgar Cayce.

Phần thể xác của ông Edgar Cayce không có những năng lực tâm linh siêu hình, huyền bí, nào hết, thể xác ông Edgar Cayce chỉ đóng vai trò trung gian, giữa thể xác bằng xương thịt bình thường của ông Edgar Cayce với những linh hồn siêu hình, thường là những linh hồn bí ẩn, những linh hồn nầy không biết ở đâu, không biết từ đâu đến, không biết do ai sai phái, điều khiển, những linh hồn nầy tự ý xuất hiện trong khi ông Edagar Cayce hôn mê, không hề khai báo lý lịch, họ tên, và không theo ý muốn, lịnh lạc gì của ông Edgar Cayce.

Một cách tổng quát, thể xác ông Edgar Cayce cũng giống như bất cứ thể xác con người bình thường nào khác, trên nhiều khiá cạnh, thể xác ông Edgar Cayce còn yếu kém hơn thể xác nhiều người bình thường khác, ông Edgar Cayce thường bịnh hoạn, ốm đau, vợ con ông Edgar Cayce cũng thường bịnh hoạn, ốm đau và không có năng lực tâm linh kỳ bí gì. Phải nhấn mạnh và phải nói thật rõ ràng là thể xác ông Edgar Cayce không có những khả năng tâm linh huyền bí, không có tài năng siêu phàm, kỳ lạ gì, như là hô biến hô hiện, hô phong hoán vũ, gọi gió, gọi mưa, không làm được bất cứ một phù phép, phù thuỷ gì, nhưng điểm đặc biệt là thể xác ông Edgar Cayce có những yếu tố tâm linh siêu hình nào đó, những yếu tố khiến cho trong những cơn đồng thiếp, hôn mê, bất định, của ông Edgar Cayce, những linh hồn xa lạ có thể xuất hiện trong thân xác ông Edgar Cayce, điều nhữnt cơ thể người khác không làm được.

Những linh hồn nầy chỉ xuất hiện thường là chỉ trong chốc lát, để thực hiện những lời hướng dẫn cần thiết nào đó cho bệnh nhân, rồi biến mất, không biết đi đâu, cũng không hẹn ngày trở lại, còn ông Edgar Cayce khi tỉnh lại, ông không nhớ hay biết chuyện gì đã xảy ra trong khi thân thể ông hôn mê, ông không biết những linh hồn xuất hiện trong cơ thể của ông là những linh hồn nào, đã nói những gì, người phụ tá của ông phải ghi chép lại tất cả những gì những linh hồn lạ nầy, đã nói ra trong lúc ông Edgar Cayce hôn mê.

Đây là một yếu tố tâm linh, một điều kiện về điện trường đặc biệt nào đó của thể xác ông Edgar Cayce, bình dân gọi là “dòng điện âm”, khoa học gọi là “dòng điện não”, không phải là năng lực tâm linh Thần Thánh siêu hình, (Ông Edgar Cayce từ lúc sinh ra cho tới khi chết, chỉ là một con người bình thường, ông không phải là Thần Thánh, ông cũng không có khả năng Thần Thánh), thể xác ông Edgar Cayce có thể nói là bình thùng, nhưng cũng phải nói là thể xác ông Edgar Cayce có những yếu tố tâm linh đặc biệt, cho nên thể xác ông Edgar Cayce mới có thể làm được nhiệm vụ đặc biệt là nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tiếp xúc những linh hồn lạ.

Có nhiều dạng loại linh hồn lạ khác nhau có thể xuất hiện qua cơ thể của ông Edgar Cayce, mỗi lần chỉ có một linh hồn xuất hiện trong cơ thể ông Edgar Cayce, kể cả linh hồn của những người đã chết rất nhiều năm, có linh hồn của những người cổ đại xa xưa, kể cả linh hồn những con người của những chuyện huyền thoại, thần thoại Atlantic, đã tiêu vong, mất dạng mầy chục ngàn năm trước. Điều nầy đưa đến những nhận định rất quan trọng và lợi ích cho đời sống con nguời, là thể xác con người cho dù có biến mất tiêu tan, có hoá thành tro bụi, không khí gì đi nữa, nhưng mà phần linh hồn tâm linh huyền bí siêu hình thì vẫn còn tồn tại, tồn tại bất chấp thời gian, bất chấp không gian, điều kiện vật chất nóng lạnh, mưa bão, thời tiết, vân vân.

Linh hồn con người sẽ vẫn còn tồn tại sau khi rời bỏ thể xác, có thể vượt qua những năm tháng, thời gian, 10 năm, 20 năm, 100 năm, 200 năm, 2.000 năm, hay 20.000 năm, có thể là bất diệt, có thể là bất tử, có thể vượt qua không gian nầy, không gian nọ, vân vân, nhưng quan trọng hơn nữa là nó còn mang theo tất cả cnhững khả năng, tiềm năng tri thức, kiến thức, kỹ năng, ngôn ngữ, mỹ thuật, hội hoạ, âm nhạc, vân vân. Điều nầy giải thích được trường hợp của những thiên tài xuất hiện trong những thân xác của những đứa trẻ thơ, gọi là thần đồng, có những đứa trẻ 3, 4, 5 tuổi mà đã có những khả năng, hiểu biết thông thái, đặc biệt là biết nói rành rẽ những thứ ngôn ngữ lạ, gần giống như trường hợp của cô bé 13 tuổi Croatia trên đây.

Còn điều quan trọng hơn nữa là bất chấp sự tiêu tan của thể xác, vật chất, linh hồn vẫn còn mang theo những sự đau khổ hay hạnh phúc về bên kia thế giới, thậm chí là mang theo đau khổ hay hạnh phúc kiếp nầy sang những thân xác kiếp sau, điều nhận định nầy rất quan trọng và lợi ích cho đời sống con người hiện tại. Nói rõ hơn là con người tự tạo cho mình Thiên Đường, Điạ Ngục, chớ không phải là Thượng Đế, hay là một ai khác, không ai khác hơn là chính mình, nếu mình đau khổ trong đời sống hiện tại, có thể là mình sẽ mang theo sự đau khổ cho linh hồn mình, nghĩa là mình sẽ tự đi vào Địa Ngục, không phải là Thượng Đế, hay là bất cứ ai đày ải mình vào Địa Ngục, và ngược lại, mình có thể đến Thiên Đàng, nhưng là tự mình sẽ phải tự tìm đến Thiên Đàng một mình, không ai có thể dẫn dắt mình vào Thiên Đàng.

Muốn linh hồn mình mai sau không phải vào Địa Ngục khổ đau, thì trong cuộc sống hiện tại, mình phải tìm cách từ bỏ những nổi khổ đau, sân hận, oán hờn, ganh tị, thù ghét, vân vân, Đức Phật đã nghiệm thấy những điều nầy qua những ngày tháng tịnh tâm, thiền định dưới gốc Bồ Đề, sự khám phá những nguyên nhân hạnh phúc, khổ đau của con người có nghĩa là Phật, tu Phật là học hỏi những nguyên nhân hạnh phúc khổ đau con người, để tránh làm khổ mình, tránh làm khổ người, tu Phật chỉ có nghĩa là như vậy, không có nghĩa gì khác, càng không có nghĩa là đi tìm kiếm những năng lực tâm linh huyền bí siêu hình nào cả.

Lời giáo huấn căn bản nhất của Đức Phật là lời khuyên “tìm kiếm những phương thức giải trừ đau khổ”, nói chung là lời khuyên: “Giác ngộ”, chỉ có “giác ngô” thì mới hết được khổ đau, thể xác phải giác ngộ thì thể xác mới hết đau khổ, linh hồn cũng phải giác ngộ thì linh hồn mới được giải thoát, nếu không giác ngộ thì linh hồn cũng sẽ bị trầm luân, đoạ đày. Khi “Giác Ngộ” thì linh hồn sẽ không vào Địa Ngục, tức là vào cõi khổ đau, khi “Giác Ngộ” thì linh hồn mới có thể đi vào cõi “Niết Bàn”, là cõi không đau khổ. Tất cả những triết lý cao siêu, huyền diệu của Phật giáo, như “nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, vân vân”, chúng ta có thể hiểu biết, ứng dụng một cách cụ thể, lợi ích, và đơn giản, qua những câu chuyện, bài học, phân tách, nhận định, tìm hiểu, học hỏi… về thế giới tâm linh, linh hồn, huyền bí, siêu hình, tức là bằng ngành Khoa Học tâm Linh, chớ không phải là ngành Khoa học thực nghiệm.

Nói chung thì thể xác ông Edgar Cayce yếu đuối bình thường, thậm chí còn là bịnh hoạn, ốm đau, trí não của ông lại có phần kém thông minh, tánh tình ông lại có phần lười biếng, bạc nhược, học hành thì lại càng tệ, ông học rất ít, ông cũng chẳng có tài nghề chuyên môn gì, nhưng ông lại có một khả năng vô cùng đặc biệt, và kỳ lạ, là khả năng tiếp xúc với những linh hồn lạ, và tiếp xúc thường xuyên hằng ngày, điều không một ai khác làm được, kể cả vợ con ông, cho nên sau khi ông Edgar Cayce chết, thì không có ai là người thừa kế, tiếp nối những công việc tâm linh của ông.

Ông Edgar Cayce tiếp xúc với những linh hồn lạ bằng cách tự ông đi vào giấc ngủ hôn mê, và trong cơn hôn mê của thể xác, linh hồn lạ sẽ mượn thể xác ông Edgar Cayce tương tự như cách những người đồng bóng làm, chỉ tương tự nhưng không giống hoàn toàn, bởi vì Ông Edgar Cayce không lợi dụng chuyện cầu hồn để có những lợi ích cá nhân nào cho ông như những người đồng bóng, cũng không có bất cứ một hình thức mê tín dị đoan nào như những người đồng bóng, chỉ thuần túy để giúp đỡ cho người khác, phần nhiều là để chữa trị những bệnh tật, ốm đau cho con người, nhưng cũng không giống như một Bác Sĩ, mà giống như một người Thầy Thần Linh.

Lối chữa trị bệnh tật bằng tâm linh của ông Edgar Cayce là những ý kiến, chỉ dẫn của những linh hồn rành, giỏi y học, y khoa, có những linh hồn là những Bác Sĩ rất tài giỏi, có khi là những Bác Sĩ giải phẩu, có khi là Bác Sĩ chuyên môn, Bác Sĩ tâm lý, vân vân, đặc biệt là ông có thể chữa trị được những chứng bịnh ngặt nghèo, nguy nan, mà bác sĩ, nhà thương đều đã phải bó tay, đầu hàng, bằng những chỉ dẫn rất kỳ lạ, khác thường của những linh hồn kỳ lạ. Thông thường người bịnh được những linh hồn kỳ lạ nầy tìm kiếm những nguyên nhân bịnh trạng của bịnh nhân, sau đó là những chỉ dẫn cách thức điều trị, có rất nhều cách thức điều trị khác nhau, không nhất thiết phải dùng đến thuốc men, dược thảo, dược phẩm, những phương cách chữa trị bịnh của Edgar Cayce thường ít khi sử dụng thuốc men.

Như đã nói nhiều lần rằng bản thân ông Edgar Cayce không phải là Thần Thánh, không có những tài năng khả năng kỳ lạ gì, những tài năng, khả năng siêu phàm kỳ lạ ở đây là của những linh hồn lạ xâm nhập cơ thể ông Edgar Cayce, có khi là những linh hồn Cao cả, chớ không phải là tài năng, khả năng của cơ thể ông Edgar Cayce. Nhưng qua quá trình những năm tháng, thời gian, những tiếp xúc thường xuyên với những linh hồn tài ba, huyền bí, kỳ lạ nầy, dần dần, bản thân ông Edgar Cayce có những biến đổi, dần dần cá nhân ông Edgar Cayce cũng có những khả năng, kiến thức, tâm linh đặc biệt, nghĩa là sau cùng, ông Edgar Cayce đã không còn là một người tầm thường hay bình thường như lúc ban đầu nữa.

Dần dần, càng lớn tuổi, càng về già, càng được tiếp xúc với những linh hồn kỳ lạ, nhất là những linh hồn Cao Cả, anh minh, Thần Thánh, ông Edgar Cayce càng trở nên thông thái hơn, tài giỏi hơn, đặc biệt là dần dần ông có được những đức tính cao qúi như: minh triết, giác ngộ, đạo đức…Điều nầy khiến cho càng về già, càng lớn tuổi, ông Edgar Cayce càng nổi tiếng, nhưng quan trọng là ông Edgar Cayce càng được nhiều người qúi mến, kính trọng.

Cho nên, qua trường hợp, thay đổi, trưởng thành, minh triết, giác ngộ, bằng con đường tâm linh siêu hình của ông Edgar Cayce, chúng ta cũng có thể theo gương của ông Edgar Cayce, để tự thay đổi bản thân của mình, nâng cao phẩm giá, đức hạnh, năng lực của bản thân mình, bằng con đường học hỏi tâm linh, bằng những phương thức cầu nguyện, thiền định như ông Edgar Cayce đã từng làm. Cầu nguyện là gửi những thông tin, ước nguyện cá nhân mình đến Thượng Đế, còn Thiền định là phương thức lắng nghe những thông tin, liên lạc, dạy dỗ, thông điệp, mệnh lệnh của Thượng Đế. Ước nguyện của ông Cayce là những lời cầu xin Thượng Đế, không phải là những phú quí vinh hoa, giàu sang, sung sướng bản thân ông, mà là những khả năng, phương thức cứu giúp con người khỏi những đau khổ, bệnh hoạn, ốm đau; kết quả là Thượng Đế đã đáp ứng những ước nguyện đạo đức của ông Edgar Cayce, bằng phương cách sai phái những linh hồn đến phò trợ, giúp đỡ người đời qua thân xác của ông Edgar Cayce.

Qua những học hỏi, hiểu biết về tâm linh, thế giới siêu hình, chúng ta không bao giờ được phép đánh giá người khác qua con người, thân xác thông thường của họ, quá khứ hay hiện tại của một con người không định giá chính xác giá trị, phẩm chất của một con người. Phải coi xét những công quả công đức, những công trình học hỏi, tu hành, những tinh tiến tâm linh hằng ngày của người đó, những tâm thức tiến hoá, những tâm nguyện phục vụ con người, nhân loại, thiên nhiên, vân vân, mới có thể định giá được phẩm chất hay giá trị của một con người.

Thực tế, những cái nầy rất khó nhận định, nhận xét, hiểu biết, không ai hiểu biết được chính xác linh hồn của một con người, chỉ có một người duy nhất hiểu biết mọi linh hồn con người, người duy nhất đó là Thượng Đế, biết rõ và biết hết mọi tư duy, tư tưởng của mọi linh hồn, mọi con người, không ai khác hơn là Thượng Đế. Cho nên, đừng bào giờ ngại khi tư duy tốt, làm việc tốt, bởi vì mọi tư tưởng tư duy của chúng ta đều được Thượng Đế ghi chép hết vào những bộ sổ Tâm Linh của Thượng Đế, và ngược lại, đừng bao giờ tư duy xấu, làm việc xấu, bởi vì Thượng Đế cũng đều ghi chép hết, một con người dù có dối gạt được ai, người đó cũng không bao giờ dối gạt được Thượng Đế.

Đừng căn cứ vào tên tuổi, chức tước, danh giá, địa vị, của một con người, mà đã vội đánh giá người đó, những cái nầy chỉ là hình thức, vật chất, tất cả những cái nầy chỉ là những cái vỏ bọc bên ngoài của một con người, những cái nầy không đủ yếu tố để đánh giá, thẩm định chính xác một con người. Giá trị, phẩm hạnh của một con người tùy thuộc rất nhiều vào những cái bề sâu, những cái bên trong của người đó, những phần siêu hình, tâm linh, linh hồn, tư tưởng, tình cảm, đạo đức của người đó. Còn nữa, một con người hôm qua hãy còn nhỏ bé, tầm thường, nhưng hôm nay có thể khác, ngày mai càng có thể khác, mọi thứ thay đổi tùy theo những thay đổi linh hồn, thể xác của mỗi người trong mỗi thời gian, mỗi không gian, mỗi sự việc.

Bằng con đường công đức và học hỏi tâm linh, ông Edgar Cayce cũng đã dần dần trở thành gần như một người thông thái, gần như một nhà triết học, một người hiền triết, thậm chí gần như là một nhà tiên tri. Ông Edgar Cayce biết trước nhiều sự kiện lớn về chính trị, kinh tế của nhân loại, thế giới, như là sự thành lập quốc gia Do Thái, sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đại chiến thế giới, vân vân. Ông Edgar Cayce cũng biết trước, một cách rất chính xác, ngày giờ chết của bản thân, thể xác ông, giờ phút linh hồn ông phải trở về với Thượng Đế, ông biết được những điều bí ẩn của tâm linh, ông biết rằng không ai có thể cưỡng lại những mệnh lệnh tối hậu của Thượng Đế, những xếp đặt, điều khiển của Thượng Thiên, những Đấng tối cao, thiêng liêng.

Sự trưởng thành, biến đổi của ông Edgar Cayce là những quá trình, tiếp xúc, học hỏi với những linh hồn lạ, qua nhiều năm tháng thời gian, khác hẳn quá trình thay đổi quá nhanh chóng, chỉ có 24 tiếng đồng hồ của cô bé 13 tuổi người Croatia, từ một cô bé mới học hành bập bẹ tiếng Đức, bỗng trở thành một người hoàn toàn thông thạo Đức ngữ, như là một người Đức chánh tông, trong khi Đức ngữ vốn là một ngôn ngữ rất khó học, rất khó thành công, đòi hỏi thời gan học tập lâu dài, những nổ lực lớn lao.

Nguyên nhân sự biến đổi kỳ lạ, nhanh chóng của cô bé Croatia ở đây, chỉ có thể giải thích bằng những yếu tố tâm linh siêu hình, yếu tố linh hồn, giã thiết thứ nhất là linh hồn tiền kiếp của cô bé nầy vốn là một người Đức chánh tong, khi đầu thai trong thân xác của một cô bé người Croatia, cô chỉ biết tiếng Croatia, nhưng cơn hôn mê dù rất ngắn ngủi chỉ có 24 tiếng đồng hồ, đã đột nhiên giúp cô phục hồi những năng lực Đức ngữ của linh hồn tiền kiếp của cô.

Nghĩa là một linh hồn khi đầu thai có thể vẫn còn mang theo những khả năng nào đó của những tiền kiếp, trong quá trình những cuộc soi rọi tiền kiếp con người, ông Edgar Cayce đã từng chứng minh điều nầy, không chỉ mang theo cái tốt, mà một linh hồn còn có khả năng mang theo những cái xấu của linh hồn tiền kiếp. Những cái xấu hay cái tốt của một linh hồn có thể vẫn ngủ yên, hay thức tỉnh trong một cơ thể mới, của một hay nhiều đời kiếp, cái nầy có những nguyên nhân, điều kiện phức tạp, bí ẩn của một ngành học còn nhiều bí ẩn, là ngành học tâm linh huyền bí siêu hình. Nguyên nhân thứ hai, là một linh hồn của người Đức chính tông đã xâm nhập vào cơ thể cô bé trong lúc cô bé hôn mê, và linh hồn nầy vẫn ở lại khi cô bé đã tỉnh, khác hơn trường hợp những linh hồn lạ chỉ xâm nhập vào thể xác ông Edgar Cayce khi ông Edgar Cayce hôn mê, còn khi ông Edgar Cayce tỉnh lại, thì những linh hồn nầy không còn trong thể xác của ông Edgar Cayce nữa.

Nhiều trường hợp, hiện tượng tâm linh nầy thỉnh thoảng cũng xảy ra cho người nầy, người khác, điều quan trọng là nếu gặp linh hồn tốt thì thể xác nầy gặp may mắn, chỉ sợ là gặp linh hồn xấu thì là một chuyện kém may mắn, một linh hồn ác thì lại càng kém may mắn hơn nữa, cho nên, một người bịnh nặng hôn mê, không ai biết được khi tỉnh lại, người bịnh sẽ may mắn hay không may mắn, có linh hồn tốt hay linh hồn xấu xâm nhập vào cơ thể.

Tóm lại, giữa thời đại văn minh, khoa học, kỹ thuật, điện tử, điện năng tân tiến ngày nay, không ai có thể chấp nhận những lời giải thích hiện tượng cô bé 13 tuổi người Croatia bỗng nhiên thông thạo tiếng Đức sau một cơn hôn mê 24 tiếng đồng hồ, bằng những ý niệm về linh hồn, tâm linh, siêu hình, nhưng nếu không chấp nhận những lời giải thích theo những ý niệm tâm linh siêu hình nầy, thì các nhà khoa học thực nghiệm lại không thể giải thích được gì.

Chúng ta không thể chối bỏ những khả năng và lợi ích của các ngành khoa học thực nghiệm, nhất là các ngành khoa học điện tử hiện nay, nhưng nếu như chúng ta, nhân loại chỉ biết chạy theo, tin tưởng tuyệt đối khả năng của các ngành khoa học thực nghiệm, điện tử, các ngành văn minh vật chất, mà không quan tâm đến những vấn đề cũng không kém phần quan trọng trong đời sống con người, xã hội là đạo đức, tâm linh, thì rồi cuối cùng con người sẽ phải đối diện với những vấn đề nghiêm trọng của đạo đức, tâm linh.

Khi đạo đức, tâm linh con người khủng hoảng, khi con người không còn nhân phẩm, đạo đức, không còn tôn trọng những giá trị tinh thần, không còn những đức tính: công bằng, bác ái, từ bi…, thì khoa học, văn minh gì cũng vô nghĩa, ngay cả thế giới cũng không chắc là sẽ còn tồn tại. Cho dù có tài giỏi thế nào, có tài giỏi tới đâu, con người cũng chỉ là những sinh vật do Thượng Đế sáng tạo, Thượng Đế điều khiển, Thượng Đế xếp đặt, Thượng Đế quyết định, bất cứ sự múa may quay cuồng nào của con người, bất cứ con người nào, rốt cuộc cũng chỉ giống như là hình ảnh của một Tôn Ngộ Không nhảy nhót trong lòng bàn tay của Phật Tổ Như Lai.

Trần Đại Lý
TinParis.net 18.04.2010

http://www.tinparis.net/vn_index.html

NASA Báo Nguy: Cả Triệu Phi Đạn Bay; Phế Vật Ở Quỹ Đạo Nguy Hiểm Cho Phi Thuyền

NASA Báo Nguy: Cả Triệu Phi Đạn Bay; Phế Vật Ở Quỹ Đạo Nguy Hiểm Cho Phi Thuyền

DALLAS - Hãy tưởng tượng nửa triệu mảnh đá bay vòng quanh địa cầu. Còn nguy hiểm hơn phi đạn.
Đó là chướng ngại vật trên quỹ đạo bay của trạm quốc tế, phi thuyền con thoi và vệ tinh nhân tạo. Đó là 1 vấn nạn. Những phế vật ấy lớn như 1 vệ tinh đã ngưng hoạt động, bay với tốc độ trên 17,500 dặm/giờ, trong khi 1 bụi sơn có thể gây ra 1 vết nứt trên cửa sổ của phi thuyền con thoi, như đã có lần xẩy ra.
Ông Roderick Heelis, giám đốc khoa học không gian của trường đại học Dallas nhận xét "Thực tế ấy là giống như phun cát".
Theo NASA, từ năm 2006, phế vật không gian ở quỹ đạo thấp (mà trạm quốc tế đang bay) đã tăng 60%, tạo ra bởi vụ bắn thử vệ tinh của Trung Quốc, tạo ra 3000 mảnh, và va chạm giữa 2 vệ tinh hồi Tháng 2 tung ra 2000 mảnh.
Theo 1 viên chức NASA, hàng triệu phế vật không gian gồm nửa triệu vật có kích thuớc lớn bằng viên đá lót nền nhà, và khoảng 20,000 mảnh lớn hơn quả bóng mềm.
Tuy phi thuyền đưa thoi ngưng bay trước cuối năm nay, những phế vật ấy là mối đe dọa gia tăng với vệ tinh viễn thông, vệ tinh theo dõi thời tiết, và vệ tinh quân sự.
Khi phi thuyền Discovery bay về địa cầu trong ngày chủ nhật, 20,000 pound rác và phế phẩm đuợc đưa về trái đất. Trước đây, trạm không gian Mir của Nga thả rác vào không gian, ít nhất 87 bao, theo ghi nhận của khoa học gia Harvard.
Ông David Wright, khoa học gia của Union of Concerned Scientists, nói "Không gian không khác gì miền tây hoang dã năm xưa" khi các nhà thám hiểm tiền phong không thấy cần luật, và xả rác tại bất cứ đâu. Ông nói : nay cần có luật quốc tế, để cấm bắn hủy vệ tinh, và cấm phi thuyền để lại phế phẩm trên không gian.
Ông Heelis giải thích : phế vật bay ở quỹ đạo cao hơn có tốc độ bay nhanh hơn, và bị phá hủy sau 1 thời gian lâu hơn, có thể là hàng thế kỷ. Ông nói : không gian là rộng lớn, cơ hội va chạm là rất nhỏ, nhưng hậu quả là lớn khi xẩy ra đụng chạm.

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=116&nid=158158

Saturday, February 27, 2010

Lợi hại trong việc sử dụng Internet

Lợi hại trong việc sử dụng Internet
Đỗ Hiếu, phóng viên RFA
2010-02-26
Báo điện tử VietnamNet mới đây có bài viết mang tựa đề “Internet giúp cải tạo trí khôn”. Nhận xét này được đưa ra căn cứ vào kết quả một cuộc nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy trên 75% chuyên gia tin rằng con người sẽ trở nên thông minh hơn trong 10 năm tới.

Kho tàng kiến thức



Biểu đồ sử dụng Internet tại VN từ năm 2005 đến 2009. AFP photo/Martin Megino
Tuy nhiên cũng có người nói là Internet sẽ hạ thấp chỉ số thông minh IQ, đối với những ai sử dụng quá nhiều phương tiện thông tin toàn cầu này.
Đa số ý kiến tham gia cuộc khảo sát đều tin rằng Internet sẽ giúp cho con người đọc và viết giỏi hơn, hay hơn, nhanh hơn và việc sử dụng Internet thường xuyên cũng sẽ làm tăng cường trí tuệ, nhận thức và sự hiểu biết tổng quát.
Tuy nhiên, cũng có hơn 20% các chuyên gia được hỏi ý kiến thì xem Internet không hoàn toàn có lợi, trái lại còn có tác động trái ngược hay tiêu cực, khiến cho con người đi giật lùi về mặt kiến thức hay luân lý, đạo đức. Nhận định này được phổ biến sau khi tạp chí Atlantic Monthly của chuyên gia công nghệ Nicholas Carr đăng một bài khảo cứu với tựa đề “Google có làm cho chung ta ngu dốt đi hay không?”.
Nếu nói Internet "cải tạo trí khôn" có nghĩa là giúp người ta có điều kiện thêm các thông tin, tôi nghĩ như vậy, còn chuyện cải tạo hay không là chuyện của người ta.
GSTS. Phạm Phụ
Khi phóng viên Ban Việt Ngữ hỏi ý kiến của ông về cái lợi của Internet, mà VietnamNet dùng từ “cải tạo”, giáo sư tiến sĩ Phạm Phụ, thuộc đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang tham gia hội nghị giáo dục tại Hà Nội nhấn mạnh:
“Nếu nói Internet "cải tạo trí khôn" có nghĩa là giúp người ta có điều kiện thêm các thông tin, tôi nghĩ như vậy, còn chuyện cải tạo hay không là chuyện của người ta, tức nhiên nó cũng tạo thêm phương tiện để người ta tiếp xúc với nhau trên toàn thế giới, vậy thôi. Cải tạo hay không là chuyện của từng người.”
Cùng câu gợi ý đó, chị Ca Dao, một blogger sinh sống tại Pháp giải thích:
“Internet là kho tàng giúp mở mang kiến thức rất nhanh chóng, tiết kiệm nhiều thời gian thay vì phải đến trường, thư viện, thì ngay tại nhà chúng ta cũng có thể mở ra cả một thế giới về kiến thức. Những phương pháp tìm kiếm hiện đại bằng Google hay Wikipedia, các diễn chứa hàng triệu thông tin, để tìm thấy tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hoá, âm nhạc, nấu ăn.

Bạn Đức tham gia vào chương trình chữa trị chứng nghiện game online do Đoàn thanh niên tổ chức. AFP photo/Hoang Dinh Nam
Đó là cái chợ kiến thức, mà đã là chợ thì có món hàng ngon, dở, tốt xấu. Là người đi chợ, chúng ta phải biết lựa chọn món hàng nào ngon, thích hợp với khẩu vị của mình.”
Lợi nhiều hơn hại


Vẫn theo các chuyên gia không ủng hộ việc thường xuyên sử dụng Internet, vì mạng lưới điện toàn cầu hay các trang web có thể khiến người truy cập hàng ngày, mất khả năng tập trung và mất đi sự sâu sắc khi cần phải suy nghĩ vấn đề gì.

Giáo sư Phạm Phụ cũng nhìn thấy những điểm tiêu cực ấy:
“Có những người đưa trên mạng những điều không lành mạnh, nếu các em xem nội dung ấy mà ham mê thì cũng có tác hại, nhưng tôi nghĩ là cái lợi hơn nhiều, còn cái hại thì cũng có chút đỉnh nào đấy, là do những người không tốt đưa ra những thông tin không được lành mạnh chứ còn có bản lĩnh thì vẫn tốt thôi.”
Chị Ca Dao cũng từng sống trong một thế giới bị Internet mê hoặc kể lại:
“Internet là môi trường cho tất cả mọi người trong xã hội, như thế sẽ có người lợi dụng cho mục đích xấu. Đối tượng sử sụng Internet đa số là giới trẻ rất nhạy bén, bổn phận của cha mẹ là phải hướng dẫn con trẻ vào mục đích giải trí lành mạnh. Internet có thể trở thành thuốc phiện khiến nhiều người ghiền. Họ tìm thấy điều mới lạ, có thêm bạn bè, có cảm giác như đang sống trong thế giới ảo trong căn phòng nhỏ của họ.
Internet là kho tàng giúp mở mang kiến thức rất nhanh chóng, tiết kiệm nhiều thời gian thay vì phải đến trường, thư viện, thì ngay tại nhà chúng ta cũng có thể mở ra cả một thế giới về kiến thức.
Chị Ca Dao
Người ta quên đi là bên ngoài còn có đời sống, xã hội thật sự. Có người ghiền Internet thì ngồi suốt ngày trước máy, tự cô lập họ, mất dần mối quan hệ với bạn bè, người thân, bỏ đi những thói quen trước đó. Họ quên cả ăn uống và quên cả thế giới thật bên cạnh mình.”
Một số chuyên gia điện toán cho rằng, trong thời đại ngày nay hầu như mọi người đều đang sử dụng Google như một phụ tá đắc lực cho họ, mỗi khi cần có bất cứ thông tin nào, ngay lúc ấy người ta nghĩ ngay đến cái tên Google, Yahoo, Wikipedia.
Còn đối với nhận định cho là các công cụ trực tuyến vừa kể sẽ khiến con người ngu dốt đi, thì có lẽ câu trả lời cũng cần phải chờ 10 năm tới để biết đâu là sự thật?

Theo dòng thời sự:

Hoa Kỳ-Trung Quốc họp về vấn đề tự do Internet
Tật nghiện game on line
Nghiện Net, trẻ càng học lùi
2009: thời gian xử dụng internet tăng gấp đôi
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Is-Internet-useful-or-harmful-DHieu-02262010121247.html

Friday, February 26, 2010

Kim cương mất ngôi 'vua' độ cứng


Kim cương mất ngôi 'vua' độ cứng

Cập nhật lúc 16h09' ngày 05/02/2010
Bản in Gửi cho bạn bè Phản hồi

Xem thêm: vũ trụ, thiên thạch, kim cương, vật chất, độ cứng, havero
Trên bài viết đăng tải trên Tạp chí Khoa học về Trái đất và hành tinh, giáo sư Tristan Ferrroir, ĐH Lyon, Pháp, công bố, nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện loại vật chất mới còn cứng hơn cả kim cương.

“Phát hiện mới có thể mở ra hướng nghiên cứu mới về các dạng thù hình của các bon”, giáo sư Ferrroir tuyên bố.



Việc phát hiện diễn ra tình cờ khi nhóm của giáo sư Ferrroir tìm hiểu thành phần khoáng vật thu được từ phần còn lại của thiên thạch Havero, rơi xuống Phần Lan vào năm 1971. Khi mài khoáng vật, lưỡi dao làm bằng kim cương bị mòn dần và bụi kim cương rơi xuống túi của người đứng máy.

Điều này đã thực sự gây sửng sốt, vì kim cương vẫn được coi là “vua độ cứng”, được dùng để “điều trị” bất kỳ vật chất nào tồn tại trên trái đất.

Tuy nhiên, theo chuyên gia về kim cương Changfeng Chen, làm việc tại ĐH Nevada, Mỹ, phát hiện mới đã được dự báo từ cách đây 10 năm, khi các nhà khoa học tìm cách chế tạo kim cương nhân tạo.

Theo Changfeng Chen, sự thay đổi nhiệt độ và áp suất liên tục khi Havero di chuyển trong bầu khí quyển của trái đất đã tạo điều kiện cho phân tử của khoáng vật sắp xếp và tổ chức cấu trúc để đạt độ cứng như bây giờ.

Việc xác định độ cứng của khoáng vật mới đang gặp khó khăn vì số lượng mẫu có hạn, không đủ cho các nhà khoa học làm thí nghiệm. Họ đang quan sát cách sắp xếp phân tử khoáng vật, nhằm xác định một dạng thù hình mới của các bon.

Theo Báo Đất Việt (Discovery)
http://www.khoahoc.com.vn/khampha/vu-tru/26895_Kim-cuong-mat-ngoi-vua-do-cung.aspx

Cách mới để chế tạo pin mặt trời


Cách mới để chế tạo pin mặt trời

Cập nhật lúc 02h44' ngày 16/02/2010
Bản in Gửi cho bạn bè Phản hồi

Xem thêm: công nghệ, pin mặt trời, dẻo, silicon, vật liệu, polymer
Theo Nature Materials ngày 14/2, các nhà nghiên cứu Mỹ đã tìm ra cách tạo pin mặt trời dạng dẻo bằng sợi silicon.


Ảnh minh họa.

Điều đặc biệt là loại pin này chỉ sử dụng vật liệu bằng 1% so với pin mặt trời thông thường.

Các nhà nghiên cứu hy vọng phát minh trên sẽ tạo ra loại pin mặt trời nhẹ, mỏng, dễ lắp đặt và có chi phí thấp hơn.

Vật liệu mới này sử dụng loại silicon thông thường ở dạng sợi nhỏ cỡ micron (1 micron bằng 1/1.000.000 mét) thay vì phải sử dụng các tấm silicon cứng, nặng nề và dễ vỡ như hiện nay.

Các sợi này được bọc bằng polymer dẻo nên có thể cuộn hoặc uốn lại.

Pin mặt trời, chuyển hóa năng lượng mặt trời thành điện, đang được ưa thích trong bối cảnh giá dầu tăng cao và có những quan ngại về vấn đề biến đổi khí hậu./.
Theo Vietnam+
http://www.khoahoc.com.vn/congnghemoi/cong-nghe-moi/27031_Cach-moi-de-che-tao-pin-mat-troi.aspx